Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Trần Hiếu, San Jose
Bài Viết Của
Trần Hiếu, San Jose
Thương nhớ Cha Giuse Phạm Kim Hùng
Chúc Mừng Xuân Mậu Tuất 2018
CÔNG NGHỊ LÃNH ÐẠO CÔNG GIÁO HOA KỲ - SỰ HIỆN DIỆN SỐNG ÐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng ưu ái dân tộc Việt Nam
ĐÊM GIÁNG SINH CỦA NGƯỜI BẢO DƯỠNG
“PHẢI CHẤP NHẬN TRẢ GÍA” KHI RAO GIẢNG GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
Biển Đông Dậy Sóng—“Viên Đạn Cần Bắn Là Sự Đoàn Kết Dân Tộc”
Đức Kitô đã sống lại
Chú bé vẽ mèo
Câu Chuyện Giáng Sinh: GIA PHẢ CHÚA GIÊSU
DÂNG LỜI CẢM TẠ
THĂNG TIẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI
Điểm sách “Thiên Chúa và Trần Thế” Trao đổi giữa ký giả Peter Seewald và hồng y Joseph Ratzinger do Phạm Hồng Lam dịch
Thăng tiến các mối quan hệ con người qua lắng nghe
Lá thư gửi Chúa
Sống đạo qua thăng tiến các mối quan hệ gia đình
Giải quyết bất đồng gia đình trong tinh thần Phúc Âm hóa
Thương Nhớ Bác Bùi Đình Đạm
Nhớ Bố Ngày Hiền Phụ
Đối phó với nóng giận trong các mối quan hệ gia đình
ĐI TÌM MÔ THỨC GIẢI QUYẾT NHỮNG BẤT ĐỒNG
Hải Linh — Danh Tài Thánh Nhạc Việt Nam
NĂM MỚI, THĂNG TIẾN NIỀM TỰ QUÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
Làm gì khi người thân của bạn ghiền bài bạc?
NÓNG GIẬN TRONG HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
Giải quyết các xung khắc gia đình
AN TÂM TRONG VIỆC DẠY CON
Ba vị ẩn tu: Một truyền thuyết được lưu hành ở thị trấn Volga
BA VỊ ẨN TU: MỘT TRUYỀN THUYẾT ĐƯỢC LƯU HÀNH Ở THỊ TRẤN VOLGA

 
 
 Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin. Matthew VI: 7, 8
 
 Cùng trẩy đi trên chuyến tàu từ Archangel đến Đan Viện Solovétsk, Đức giám mục và các khách hành hương định đến viếng ngôi đền ở đó. Chuyến du hành thật êm ả. Gió thổi nhẹ và khí hậu mát mẻ. Khách hành hương nằm trên boong tàu, ăn uống, và ngồi thành từng nhóm nhỏ chuyện trò với nhau. Đức giám mục cũng bước lên lan can và khi đang rảo bước ngài chú ý một nhóm các ông đứng gần mui tàu đang lắng nghe một ngư phủ tay chỉ về hướng biển và nói điều gì đó. Đức giám mục dừng lại và nhìn theo hướng tay của người ngư phủ. Ngài chẳng thấy gì ngoại trừ mặt biển lóng lánh ánh mặt trời. Ngài đến gần hơn để nghe, nhưng khi thấy ngài, người ngư phủ cất mũ và yên lặng. Những người khác cũng cất mũ và cúi đầu chào.
 
 Đức giám mục lên tiếng, “Tôi không dám làm phiền, anh em cứ tự nhiên. Tôi cũng muốn nghe điều anh bạn nói”.
 
 Một người là lái buôn, mạnh dạn hơn tất cả những người trong nhóm, đáp lại, “Người ngư phủ nói về các đan sĩ”.
 
 “Đan sĩ nào?” Đức giám mục vừa hỏi vừa đi về phía hông tàu, và ngồi lên một cái bục. “Kể cho tôi về họ. Tôi cũng muốn nghe. Anh đang chỉ tay vào cái gì vậy?”
 
 Người ngư phủ vừa trỏ ngón tay vào một chấm nhỏ về phía tay phải ở đằng xa vưà trả lời, “Một hòn đảo nhỏ ngài đang thấy đó. Đây là hòn đảo các nhà ẩn tu sống để được phần rỗi linh hồn”.
 
 Đức giám mục hỏi, “Đâu, hòn đảo ở đâu? Tôi chẳng thấy gì cả.”
 
 “Ở đằng xa kia, xin ngài nhìn theo tay tôi. Ngài có thấy đám mây nhỏ đó không? Bên dưới đám mây đó, chếch bên trái một chút, có một vệt mờ mờ. Đó là hòn đảo.”
 
 Đức giám mục nhìn kỹ hơn, nhưng ánh mắt không quen của ngài chẳng nhìn thấy gì mà chỉ toàn những ánh lung linh trên mặt biển.
 
 “Tôi không thấy gì”, ngài nói. “Nhưng các vị ẩn tu ở đó là ai vậy?”
 
 Người ngư phủ trả lời, “Đó là những vị thánh. Tôi đã nghe nhiều về họ nhưng mãi đến năm trước mới có dịp diện kiến.”
 
 Và người ngư phủ kể lại có một lần khi đang đánh cá, anh ta bị sóng đánh dạt vô hải đảo lúc ban đêm, nhưng chẳng biết đó là đâu. Vào sáng sớm, khi đang lang thang trên hòn đảo, anh đi qua một túp lều, và gặp một cụ gìa đứng gần. Ngay lúc đó hai người khác bước ra, và họ đã cho anh ta ăn, phơi khô quần áo, giúp sửa lại chiếc thuyền.
 
 Đức giám mục hỏi, “Họ nhìn như thế nào?”
 
 “Một người thì nhỏ con, lưng bị gù. Ông ta mặc áo dòng và nom rất già; có lẽ cả trên trăm tuổi, tôi nghĩ vậy. Ông ta già với bộ râu bạc màu, nhưng miệng lúc nào cũng nở một nụ cười, và khuôn mặt rạng rỡ như mặt một thiên thần. Người thứ hai cao hơn, nhưng cũng rất già. Ông ta mặc chiếc áo khoác rách rưới như một người nông phu. Chòm râu của ông ta rậm, và đang ngã qua màu vàng. Ông là một người lực lưỡng. Trước khi tôi có thể giúp ông ta một tay, thì ông đã lật ngược chiếc thuyền của tôi như nâng một xô nước. Ông ta cũng rất tử tế và vui vẻ. Còn người thứ ba thì cao, và chòm râu trắng như tuyết gần chạm đến đầu gối. Ông nom khắc khổ, với đôi lông mày dựng ngược; ông chẳng mang gì ngoại trừ một mảnh vải thắt ngang lưng.”
 
 “Họ có nói gì với anh không?”, Đức giám mục hỏi.
 
 “Phần lớn họ làm mọi sự trong thinh lặng, và nói rất ít, ngay cả với nhau. Khi một người nhướng mắt nhìn, người kia đã hiểu ý. Tôi hỏi người cao nhất là họ đã ở đó bao lâu, ông ta nhướng mày nom rất giận dữ. Nhưng người già nhất nắm lấy tay ông và mỉm cười, còn người cao thứ hai thì im lặng. Người cao tuổi nhất chỉ nói, ‘Xin thương xót chúng tôi’ và mỉm cười.”
 
 Trong khi người ngư phủ đang nói, chiếc tàu đã đến gần hòn đảo hơn.
 
 Người lái buôn trỏ ngón tay và nói, “Đó, bây giờ Đức Cha có thể nhìn rõ rồi, nếu ngài muốn.”
 
 Đức giám mục nhìn lên, và lúc nầy ngài thấy một vệt đen, đó là hải đảo. Ngài rời mũi tàu, nhìn kỹ hơn một chút nữa, rồi đi về phía đuôi tàu và nói với viên cầm lái:
 
 “Đó là hòn đảo, phải không?”
 
 Người đàn ông trả lời, “Vâng, đảo nầy không có tên. Có nhiều hòn đảo như thế ở biển nầy.”
 
 “Có những đan sĩ sống ở đó để cứu rỗi linh hồn của họ, phải không?”
 
 “Thưa ngài, vâng, nhưng tôi không biết điều đó có đúng không. Những ngư phủ ở đây đều nói đã thấy họ; nhưng dĩ nhiên đó cũng có thể là chuyện biạ.”
 
 “Tôi muốn vào hòn đảo đó để gặp họ,” Đức giám mục nói. “Làm sao tôi có thể vào được?”
 
 Người lái tàu nói, “Tàu không thể đến gần bờ đảo. Nhưng ngài có thể chèo xuồng vào. Ngài nên nói chuyện với ông thuyền trưởng.”
 
 Người ta đi gọi viên thuyền trưởng và ông đến.
 
 Đức giám mục nói, “Tôi muốn gặp các đan sĩ. Có thể nào tôi không vào được chăng?”
 
 Viên thuyền trưởng cố khuyên can ngài.
 
 Ông nói, “Dĩ nhiên điều đó có thể làm được, nhưng chúng ta sẽ mất rất nhiều thì giờ. Và ngay cả tôi có cố gắng, những ông già đó cũng chẳng đáng công để ngài vào gặp. Tôi đã từng nghe nói rằng những ông gìa da vàng đó ngây ngô, chẳng hiểu gì, mà cũng chẳng nói lời nào, không hơn gì cá ở biển.”
 
 “Tôi mong muốn gặp họ dẫu cho khó khăn và tốn nhiều thì giờ”, Đức giám mục nói. “Làm ơn cho tôi mượn một chiếc xuồng”.
 
 Không làm được gì hơn, vì lệnh đã ban hành. Các thủy thủ sửa lại buồm, hạ bánh lái, và chiếc tàu hướng mũi vào hải đảo. Một chiếc ghế được sắp sẵn ở đầu mũi tàu cho Đức giám mục, và ngài ngồi xuống nhìn ra đằng trước. Các hành khách tuôn về đầu mũi, và chăm chú nhìn vào hòn đảo. Những người mắt tỏ bây giờ có thể nhìn thấy các mỏm đá, và một túp lều cỏ. Cuối cùng một người nhìn thấy các đan sĩ. Viên thuyền trưởng mang ống nhòm đến, và sau khi nhìn kỹ, ông đưa ống nhòm cho Đức giám mục.
 
 “Đúng rồi. Có ba đan sĩ đang đứng trên bờ. Đó, họ đứng về mé trái của cục đá lớn.”
 
 Đức giám mục cầm lấy ống nhòm, nhắm và nhìn thấy ba người: một người cao, một người thấp hơn, và một người nhỏ con lưng gù, họ đứng trên bờ cùng nắm tay nhau.
 
 Ông thuyền trưởng quay qua Đức giám mục và nói, “Thưa Đức cha, tàu không thể đến gần hơn được nữa. Nếu ngài muốn lên bờ, xin bước xuống xuồng và tàu sẽ hạ neo ở đây”.
 
 Giây cáp được nhanh chóng hạ xuống; neo thả ra và buồm cuốn lại. Con tàu bị ghì lại và lắc mạnh. Khi chiếc xuồng nhả ra, các tay chèo nhảy xuống, còn Đức giám mục bước lần theo cầu thang và ngồi vào chỗ. Các nhịp chèo đẩy nhanh chiếc xuồng hướng vào bờ đảo. Khi họ tới gần cách khoảng ném một cục đá, họ nhìn thấy ba người già: một người cao với một mảnh giải đeo ngang thắt lưng, người thấp hơn trong chiếc áo nhà nông rách nát, và một cụ già còng lưng mặc một chiếc áo dòng—cả ba tay nắm tay.
 
 Các tay chèo kéo xuồng vào bờ, giữ chặt xuồng để Đức giám mục bước ra.
 
 Ba người già bái chào Đức giám mục và ngài ban phép lành trong lúc họ đang cúi đầu.
 
 Đức giám mục nói, “Tôi được biết các vị sống tốt lành ở đây cho phần rỗi linh hồn của mình và cầu nguyện cho những người khác. Là tôi tá bất xứng của Chúa, tôi cũng được gọi do lòng thương của Người để chăm sóc và dạy dỗ đàn chiên Chúa. Tôi mong muốn được gặp các vị là những tôi trung của Chúa để có thể hướng dẫn được điều gì chăng”.
 
 Những người già nhìn nhau mỉm cười, nhưng vẫn giữ im lặng.
 
 Đức giám mục nói, “Nói cho tôi hay các vị làm gì để cứu rỗi, và làm sao để phụng sự Chúa trên đảo nầy.”
 
 Vị đan sĩ thứ hai thở dài và ngước nhìn vị cao tuổi. Vị nầy mỉm cười và nói, “Chúng con không biết phục vụ Chúa thế nào, vì vậy chỉ biết phục vụ và giúp đỡ nhau như là các đầy tớ của Chúa mà thôi.”
 
 “Nhưng các người cầu nguyện với Chúa thế nào?” Đức giám mục hỏi.
 
 Vị đan sĩ đáp, “Chúng con cầu nguyện như thế nầy. Lạy Ba đấng, ba chúng con đây, xin thương xót chúng con.”
 
 Và khi người cao tuổi nói những lời nầy, cả ba ngước mắt lên trời, và lập lại:
 
 “Lạy Ba đấng, ba chúng con đây, xin thương xót chúng con.”
 
 Đức giám mục mỉm cười.
 
 Ngài nói, “Chắc hẳn các ngươi đã nghe biết về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng các ngươi không cầu nguyện đúng cách. Các ngươi là những người lành thánh đã làm tôi động lòng. Tôi biết rằng các ngươi muốn đẹp lòng Chúa, nhưng các ngươi không biết cách phục vụ Ngài. Đây không phải là cách để các ngươi cầu nguyện; nhưng hãy nghe, tôi sẽ chỉ cách. Tôi dạy các ngươi, không bằng cách của tôi, nhưng là cách Thiên Chúa trong Thánh Kinh đã dạy mọi người cầu nguyện.”
 
 Thế rồi Đức giám mục bắt đầu giải thích cho các đan sĩ Chúa đã tỏ mình ra cho con người thế nào, và dạy họ về Đức Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.
 
 Ngài nói, “Chuá Con đã xuống thế để cứu chuộc nhân loại, và đây là điều Ngài đã dạy chúng ta cầu nguyện. Hãy lắng nghe và lập lại theo tôi: ‘Lạy Cha chúng con’.
 
 Người thứ nhất lập lại, “Lạy Cha chúng con” và người thứ hai đọc, “Lạy Cha chúng con” và người thứ ba, “Lạy Cha chúng con”.
 
 “Đấng ngự trên trời,” Đức giám mục đọc tiếp.
 
 Người thứ nhất lập lại, “Đấng ngự trên trời,” nhưng người thứ hai vụng về đáp lại, còn người cao to thứ ba không thể lập lại đúng chữ. Tóc của ông đã phủ che cả miệng vì vậy ông không phát âm rõ tiếng. Vị đan sĩ cao tuổi nhất, không có răng, cũng mấp máy không rõ ràng.
 
 Đức giám mục lập lại lần nữa, và ba người già lập lại sau ngài. Đức giám mục ngồi xuống một tảng đá, còn những người già đứng trước mặt ngài, quan sát miệng ngài và lập lại từng lời ngài nói. Và sau một ngày dài lao động vất vả, đọc lời kinh hai mươi, ba mươi và cả hàng trăm lần, và sau mỗi lần các đan sĩ tiếp tục đọc theo. Họ vụng về, và ngài tiếp tục sửa, và muốn họ lập lại từ đầu.
 
 Đức giám mục đã không rời chỗ cho đến khi đã dạy họ toàn bộ Kinh Lạy Cha để họ không phải lập lại sau ngài mà có thể tự đọc một mình. Người đứng giữa là người đầu tiên học thuộc, và có thể tự lập lại một mình. Đức giám mục bắt người nầy đọc đi đọc lại, để ít nhất hai người kia cũng lập lại được.
 
 Trời đã tối và ánh trăng đang hiện lên trên mặt biển. Đức giám mục đứng lên và bước xuống tàu. Khi ngài rời đi, các đan sĩ cúi rạp mình xuống đất trước mặt ngài. Ngài nâng họ lên, hôn từng vị một, dặn họ cầu nguyện theo cách ngài đã dạy. Thế rồi ngài rảo bước xuống xuồng để trở lại con tàu.
 
 Đang khi ngồi trên xuồng và chiếc xuồng chèo ra tàu lớn, ngài nghe ba đan sĩ lớn tiếng lập lại Kinh Lạy Cha. Khi chiếc xuồng đến gần con tàu, tiếng kinh của họ không còn nghe được nữa nhưng bóng họ còn nhìn thấy trên mặt biển dưới ánh trăng, nom giống như lúc ngài rời họ trên bờ đảo: người thấp nhất ở giữa, người cao nhất bên phải, và người cao vừa bên trái. Khi Đức giám mục vừa đến tàu và trèo lên, neo được nhổ lên và buồm thả ra. Gío thổi mạnh và con tàu trẩy đi. Đức giám mục đến ngồi cuối đuôi tàu nhìn hòn đảo đang rời xa. Một lúc sau ngài còn thấy ba đan sĩ, tuy hòn đảo đã cách xa chỉ thấy lờ mờ. Cuối cùng hải đảo biến mất, chỉ còn mặt biển lung linh với ánh trăng.
 
 Các khách hành hương đã đi ngủ và quang cảnh yên lặng trên boong tàu. Đức giám mục chưa muốn ngủ, ngài ngồi yên ở cuối con tàu, mắt nhìn ra mặt biển nơi hải đảo đã rời xa, và suy nghĩ miên man về ba đan sĩ. Ngài nghĩ hẳn họ đã rất vui học được Kinh Lạy Cha; và ngài cám ơn Chúa đã gửi ngài đến giúp họ.
 
 Đức giám mục tiếp tục ngồi, suy nghĩ, và dán mắt vào mặt biển khi hải đảo đã biến đi. Rồi ánh trăng lóe lên trước mắt ngài, các tia sáng lóng lánh, khi chỗ nầy, khi chỗ khác trên các lượn sóng. Thình lình ngài nhìn thấy vật gì đó màu trắng và chiếu sáng, băng băng trên biển thành một đường thẳng phát quang dưới ánh trăng. Một con chim biển lớn, hoặc một cánh buồm lấp lóe của con thuyền nào đó? Đức giám mục dán mắt vào vật đó và quá đỗi ngạc nhiên.
 
 Ngài thốt nghĩ, “Phải là một con thuyền chạy đằng sau, nhưng nó vượt lên nhanh qúa. Nó mới còn ở xa mà đã đến gần rồi. Nhưng nó không thể là con thuyền, vì không có buồm; nhưng dầu nó là vật gì đi nữa, nó đang chạy theo và đuổi kịp mình.”
 
 Và ngài không thể đoán ra đó là vật gì nữa. Không phải con thuyền, cũng chẳng phải chim, cũng không là cá! Nó qúa lớn, không thể là con người, mà con người làm sao đang chạy trên biển. Đức giám mục đứng phắt dậy, và nói với người lái tàu:
 
 “Coi kià, cái gì vậy, anh bạn? Cái gì vậy?” Đức giám mục lập lại, mặc dầu lúc nầy ngài đã thấy rõ—đó chính là ba vị đan sĩ đang chạy trên mặt nước, ánh quang của chòm râu trắng lấp lánh tiến gần con tàu, nhanh đến nỗi như tàu đang ngừng chạy.
 
 Người lái tàu nhìn, và vụt bỏ tay lái vì sợ hãi.
 
 “Ôi, lạy Chúa tôi! Các đan sĩ đang chạy theo giống như họ đang chạy trên bờ!”
 
 Các hành khách nghe ông nói bật dậy và tập họp ở cuối con tàu. Họ nhìn thấy các đan sĩ đang chạy theo, tay trong tay, và hai người bên ngoài vẫy tay ra hiệu cho con tàu ngừng lại. Cả ba đang trượt trên nước mà không phải cử động bàn chân. Trước khi con tàu ngừng lại, các đan sĩ đã bắt kịp, họ cùng nâng đầu lên, và nói:
 
 “Chúng con đã quên lời dạy của ngài, vị tôi tớ Chúa. Khi lập lại lời kinh thì chúng con còn nhớ, nhưng khi ngừng một chút thì quên từng chữ, bây giờ thì quên hết rồi. Xin ngài dạy lại cho chúng con.”
 
 Đức giám mục làm dấu thánh gía, rồi dựa bên thành tàu, ngài nói:
 
 “Lời cầu của các ngươi đã thấu tai Chúa, hỡi người con của Chúa. Đó không phải là điều tôi đã dạy các ngươi. Xin cầu cho chúng tôi là kẻ tội lỗi.”
 
 Và Đức giám mục bái lạy các người già; họ quay đi và băng qua mặt biển. Một vệt sáng lóe lên mãi cho đến lúc rạng đông khi dấu vết của họ biến mất cuối chân trời.
 
 Trần Hiếu dịch

Tác giả: Trần Hiếu, San Jose

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!