Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Bài Viết Của
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Nhân quyền và Giáo hội - Những suy tư lịch sử và thần học
Một Cái Nhìn Mới Về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo (Quyển Hai)
Một Cái Nhìn Mới Về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo (Quyển Một)
Trực giác về hữu thể con người và hiện sinh - Minh Giải Truyện Bánh Chưng Và Truyện Dưa Hấu Trong Cuốn Lĩnh Nam Chích Quái
Các tương quan của Đạo Người - Minh Giải Truyện Trầu Cau và Đầm Nhất Dạ Trong Cuốn Lĩnh Nam Chích Quái
Chiều kích Trời - Minh Giải Truyện Đổng-Thiên-Vương Trong Cuốn Lĩnh Nam Chích Quái
Chúa Giêsu Kitô, con người thương xót
Kiều của NGUYỄN DU (1766-1820) Một gia sản văn hóa nhân loại
Đạm Tiên và « lời mới đến từ bờ bên kia, lời làm đứt ruột » trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam - Giải minh Truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh (1492)
Tình yêu trong văn hóa
Thực hiện Nước Trời thuộc về những người nghèo
Phúc của Kitô-hữu và sứ mệnh truyền bá Tin Mừng (Trong Bài Giảng Trên Núi theo Phúc Âm Thánh Mathêu)
Văn hóa Việt Nam và vấn đề triết học
Ý nghĩa của tên gọi Việt Nam và định hướng văn hóa
Đối Chiếu Sứ Điệp Truyện Hồng Bàng Thị Với Sứ Điệp Các Nền Văn Hóa Khác
Một vài suy nghĩ về đạo đức trong bối cảnh văn hóa ngày nay
Sứ điệp văn hóa nơi cuộc sống tha hương
Văn hóa là học làm người
Vĩnh biệt anh, F.X. Phan-Đức-Thông, người nói thẳng
Khổ và cứu khổ
Hồng Y  L.J. Suenens: THÁNH THẦN, HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI (Quyển ba)
Hồng Y  L.J. Suenens: THÁNH THẦN, HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI (Quyển hai Các Tài Liệu ở Malines)
Hồng Y  L.J. Suenens: THÁNH THẦN, HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI (Quyển một)
Đạo vào đời
Các giá trị tinh thần trước những thách đố của kỷ nguyên mới
Trong Chúa Kitô, Giáo hội cầu nguyện: Lạy cha chúng con
Chứng tích hình thành và phát triển chũ quốc ngữ từ năm 1632 dến nay : tiến trình  của Kinh Lạy Cha
Thiên Chúa là Cha
Một tài liệu ngôn ngữ học đối chiếu Nhật - Hoa - Việt - Biên soạn tại Áo Môn (Macao) năm 1632
Đón nhận Chúa Thánh Thần để rao truyền Chúa Kitô
Kitô hữu được Chúa Thánh Thần ban sự sống, người đó là ai?
Đón nhận Maria là mở cửa đón Chúa Thánh Thần
Lễ hiện xuống khởi nguyên xây dựng nên Giáo-hội
Nỗi khắc khoải của kiếp người
Tương lai Giáo hội  Việt nam tại Viễn-Đông và những thánh đố của đối thoại liên văn hóa hôm nay
Bồ Đào Nha và công trình sáng chế chữ quốc ngữ Phải chăng cần viết lại lịch sử ?
Câu hỏi trong khuôn khổ lịch sử khách quan: Ai đã thành lập Giáo Hội Việt Nam?
Đối Thoại và Rao Truyền: Những suy tư và hướng dẫn liên quan đến Đối Thoại Liên Tôn và Rao Truyền Tin Mừng Đức Giêsu-Kitô
Rao truyền trong đối thoại (Joseph Doré - Nguyên Tổng giám mục Strasbourg, Pháp - Thành viên Uỷ ban quốc tế về thần học)
THIÊN CHÚA LÀ CHA

   

+ Hồng-y L. J. Suenens

Người dịch   Nguyễn đăng Trúc

 

Thiên Chúa luôn luôn chuẩn bị những việc lớn lao trong khung cảnh tranh sáng tranh tối của đức tin (Hồng-y Danneels)

  

1- Chúa là Cha của tôi và là Cha của anh, chị, em 

Muốn thấu hiểu nội dung bao la của mầu nhiệm về Chúa Kitô, nên nhìn từ đỉnh cao như lên đỉnh núi để nhìn cảnh trí rõ ràng hơn. Ai muốn đi vào tâm hồn Ngài, trước hết cần nhận ra tương quan làm người Con đối với Cha Ngài: tương quan nầy chiếm đoạt và điều hành toàn bộ đời sống của Ngài. Tương quan của người Con đối với Cha, được sống ngay trong Chúa Ba Ngôi: Ngôi Lời của Chúa đã chuyển tương quan đó đến nơi thân phận làm người của Ngài và diễn tả trong suốt cuộc sống của Ngài nơi không gian và thời gian. Sự liên kết với Cha Ngài là sự sống và là hơi thở của Ngài.

Ngày nọ, tông đồ Philipphê nói với ChúaGiêsu: “Thưa Thầy xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”. Vàta đọc được câu trả lời ngay cho Philipphê: “Thầy ở vời anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê ơi, anh chưa biết Thầy hay sao? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”? (Gioan 14, 8-9).

Câu nói ấy như ánh sáng trong đêm: nó chiếu dọi cả bầu trời.

Nếu cần nhắc lại, tôi dám cả quyết là chúng ta không bao giờ có quyền tách biệt Chúa Con ra khỏi Chúa Cha, không bao giờ có quyền quên đi mối tương quan trong sáng nầy. Không có tương quan đó, Ngài không còn là chính Ngài. Sức sống của Ngài là hướng về Chúa Cha. Ngài gói trọn việc rao giảng của Ngài trong việc mạc khải Cha Ngài và Nước của Người Cha đó. Ngài đã đến để kể cho chúng ta về Cha Ngài, cho chúng ta biết sức mạnh và sự thắm thiết của tình yêu mà Cha Ngài dành cho thế giới và mỗi người trong chúng ta: một tình yêu ân cần đi vào mỗi chi tiết nhỏ nhất của cuộc đời chúng ta. Chúa Giêsu đến giúp chúng ta nhận ra những chân trời không còn thể nghi ngờ về tình yêu của Cha Ngài và lòng lân ái, khoan dung vô tận của Ngài.

Ở phần ba nầy, tôi muốn để chính Chúa Giêsu chia sẻ tình cảm của Ngài đối với Cha Ngài, khi nêu lên lại lời tâm sự phát xuất tận đáy lòng Ngài mà Thánh Luca đã ghi lại: 

“Ngày giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng mà nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã dấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng Cha lại mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng, lạy Cha vì đó là điều đẹp ý Cha”.  Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết Người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ Người Con, và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho.

Rồi Đức Giêsu quay lại với các môn đệ và bảo riêng: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy báo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua Chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Lc. 10, 22-24). 

Những lời tâm sự tận đáy lòng của Chúa Giêsu nhiều lần được ghi lại trong các bản Phúc-âm.  Và vào lúc sắp từ trần, thì chúng càng gây xúc động. Bữa tiệc ly trong ngày thứ năm Tuần-thánh chấm dứt, Chúa Giêsu nói vời các tông đồ: “giờ Ngài đã đến”, giờ vĩnh biệt đã điểm rồi: 

Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. Nào đứng dậy!  Ta đi khỏi nơi đây! 

Để hướng dẫn chúng ta tìm lại mối tương quan với Chúa Cha, các giám mục Bỉ đã dành những trang nầy, giúp chúng ta suy gẫm :

“Trước khi nhìn nhận Chúa “toàn năng”, nên khám phá ra Ngài là Cha. Trước hết Chúa là Cha nơi chính Ngài, vì trong Chúa Ba Ngôi, trước hết mọi sự Ngài sinh Con của Ngài.  Chúa là tình yêu vì tình yêu vốn là sự gắn bó làm một trong Chúa Ba Ngôi, bắt nguồn nơi Chúa Cha. Tiếp đó, Ngài cũng là Cha chúng ta vì Ngài đã tạo dựng ra chúng ta và yêu chúng ta đến nỗi nhận chúng ta làm con Ngài.Ai làm người cũng được ghi khắc tự nơi chiều sâu cuộc đời mình mối tương quan với cha và mẹ mình: không có được một mối tương quan giúp mình phát triển và giải phóng, thì đứa trẻ gặp nhiều khó khăn để trưởng thành. Sự kiện đó đúng cho đời sống mỗi người và có giá trị đến với lịch sử toàn nhân loại. Vì quá nhiều thương tổn trong các mối tương quan cha-con trên bình diện con người, nên mối tương quan của chúng ta đối với Chúa - là Cha- có thể bị ảnh hưởng tiêu cực.

 Nhiều hình ảnh sai lệch về Chúa, hình ảnh của một người cha hoặc một người mẹ kềm kẹp hoặc khắc nghiệt, hình ảnh người cha áp bức hoặc nhu nhược, đã dấy lên nơi tâm hồn chúng ta khắc khoải hoặc phản kháng. Nhiều người đương thời chúng ta sống thảm kịch nầy, họ tuyên bố “hoặc là Chúa hoặc là ta”.  Người ta nghĩ là phải triệt hạ Chúa ra khỏi tư duy, văn hóa, xã hội là đạt đến mức trưởng thành. Ngược lại, phải chăng vì thiếu vắng Thượng-đế mà xã hội chúng ta đang bệnh hoạn? Ở đâu không có vết tích của Chúa, ở đấy nhiều người giá rét vì thiếu Cha..

Làm sao chúng ta tất cả là anh em, chị em với nhau được, nếu chúng ta không có cùng một Cha chung? Nếu không có Cha thì chẳng có anh, chẳng có chị. Đức tin Kitô giáo cho hay, Chúa luôn luôn là Đấng ân cần yêu thương chúng ta. Chúa Giêsu nói Chúa Cha tốt lành, nghĩa là có Ngài thì chúng ta hạnh phúc.

Chúa là “Cha chúng ta” vì, trong sự tốt lành của Ngài, Ngài đã muốn là Cha của chúng ta. Hình ảnh một Chúa nghiêm khắc và đàn áp đã làm cho người ta hoài nghi về Ngài. Kỳ thực, Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi cho chúng ta Con Ngài để chúng ta hiểu rằng Ngài muốn là Cha của chúng ta.

 “Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha, Con và Thánh Thần chúc lành cho anh chị em”. Mỗi thánh lễ đều kết thúc như vậy. Đấng đã tạo dựng mọi sự, đã tạo ra con người để sống đời đời, vì Đấng ấy không bao giờ lấy lại tình yêu thương từng đã làm cho chúng ta được sống. Cũng trong tình yêu thương ấy, Chúa Giêsu làm cho chúng ta nên anh em của Ngài, và Chúa Cha nhìn chúng ta là con Ngài và để chúng ta gọi Ngài là Cha. Bí quyết của giao ước giữa Thiên Chúa và con người là sự nhìn nhận giữa đôi bên. 

Chúng ta thường nghe người ta nói: “Tại sao Chúa không làm điều nầy? Tại sao Ngài không ngăn cản tai ương như thế? Ngài có đáp ứng lời cầu khẩn của chúng ta hay không? Quyền năng Ngài ở đâu? Và dùng quyền năng ấy để làm gì?

Chúa toàn năng vì Chúa đã tạo dựng mọi sự.  Ngài đã làm nên vũ trụ theo ý Ngài như thế, và sức mạnh yêu thương của Ngài thể hiện trong tất cả những gì hiện hữu chứ không phải nơi những gì chúng ta tưởng tượng Ngài có thể làm ra. Không phải lúc nào Ngài cũng ngăn cản con người khổ đau trước những đảo lộn trong thiên nhiên hay trong lịch sử.

Con người nam, nữ có được lòng yêu thương và trí thông minh, và Chúa gọi họ để điều hành vũ trụ thế giới với Ngài. Nên con người nỗ lực phát triển các ngành khoa học, nghệ thuật và tình liên đới huynh đệ. Con người đóng góp vào việc cai quản thế giới với Đấng Tạo-hóa. Chúng ta biết Chúa muốn điều thiện hảo cho mọi tạo vật của Ngài. Sức mạnh yêu thương của Ngài vượt lên trên tất cả những gì ta nghĩ ra, và sức mạnh ấy, Ngày chia sẻ cho chúng ta. Chúa hành động trong lịch sử con người và trong cuộc sống của mỗi người nhưng tình yêu vô song của Ngài không cưỡng bức tự do của chúng ta: Ngài tôn trọng tự do và chờ đợi chúng ta hợp tác. Chúa không muốn có những bầy tôi, nhưng muốn có những con cái.

Vũ trụ đang tiến hóa không ngừng. Con người sống cuộc tiến hóa ấy trong niềm an vui của sự phát triển, nhưng cũng sống trong khổ đau của con người ngày ngày cảm nhận có sự chết hiện diện, kinh nghiệm cuộc sống thăng trầm nay còn mai mất nơi thân phận mình. Con người là tạo vật, và với thân phận thọ tạo, con người có những giới hạn và dòn mỏng. Người có lòng tin tạ ơn Chúa về tất cả những gì Ngài đã làm vì yêu thương. Nhưng là con người, ai cũng bị đau khổ dằn vặt để bứt rứt về thân phận làm người của mình. Vì thế Thánh Phaolô nói rằng: “ Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết quằn quại như sắp sanh nở” (Rom. 8, 22).

 Kitô-hữu sống khổ đau trong niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng giải thoát con người và đưa mọi thọ tạo đến mức thành toàn. Cùng với Chúa Kitô, Kitô-hữu chiến đãu chống lại sự ác và tội lỗi đang tạo hỗn loạn trong con người mình và trong thế giới. Người ấy kinh nghiệm quyền năng của Thiên Chúa như là một cử chỉ yêu thương của Ngài đang chiến thắng sự ác, và dẫn lối cho mọi tạo vật bước đến một thế giới mới”. 

“Năm Chúa Cha”, được nêu lên như chủ đề của năm 1999, là dịp cho chúng ta đào sâu tình phụ tử nơi Thiên Chúa, thúc giục Kitô-hữu cảm nghiệm thật sự chữ Cha mà hằng ngày họ vẫn đọc nhưng không chú tâm, không thấm nhập ý nghĩa phong phú và sự dấn thân đi kèm với tình nghĩa Cha-con nầy. Vào thời kỳ đầu của Kitô giáo, kinh nầy ít được phổ biến rộng rải cho người dự tòng. Nhưng kinh ấy đã được sốngù: Kinh Lạy Cha (Pater) ưu tiên không phải là một kinh để “đọc” nhưng là lời mời gọi đi vào cuộc sống Kitô giáo, mời gọi sống can đảm trong đức tin, ngay cả tử đạo [1]

 

2.  Tình yêu ân cần của Chúa Cha 

 Chúng ta nhận biết Chúa là Cha chúng ta ngay từ chữ đầu của “Kinh Lạy Cha”. 

Nhưng chúng ta có xác tín thật sự Chúa là Cha, không ai là cha như Ngài và mọi tình phụ tử đều phát sinh và tùy thuộc vào tình phụ tử của Ngài hay không?

Ta có thấy được toàn bộ ý nghĩa, cảm được sự ấm áp yêu thương, hiểu được các chiều kích tràn đầy nơi chữ ấy hay không?

Trong tập san Prier, một nữ độc giả từng hỏi về ý nghĩa tình phụ tử của Thiên Chúa, vì bà mãi bứt rứt. Bà viết thế nầy: 

“Tôi có những thắc mắc về Thiên Chúa là Cha. Tôi luôn ám ảnh bởi hình ảnh một Thiên Chúa nghiêm khắc hay xét đoán, có lẽ vì tôi từng có những quan hệ khó khăn với chính cha tôi. Làm sao khám phá được tình yêu thương của Chúa Cha tốt lành và nhân hậu ấy?” 

Kỳ thực, thắc mắc nầy cũng là vấn đề của chúng ta. Trước khi nêu lên một lối trả lời, chúng ta cần khiêm tốn lưu ý lời cảnh giác của Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có Thánh Thần mới thấu suốt được những điều sâu kín của Chúa.  Xin Ngài soi sáng chúng ta và dẫn đưa chúng ta vào chốn kỳ diệu của tình yêu Chúa Cha, Đấng thương yêu tất cả chúng ta bằng một mối tình âu yếm ân cần như chỉ có một mình chúng ta trên đời, và ấp ủ chúng ta bằng cả lòng yêu thương vô tận, uy dũng vô song, không mệt mỏi. Ước gì năm Chúa Cha, 1999 giúp mỗi người khám phá được chiều sâu kín của tình phụ tử nầy!

Thiên Chúa chúng ta yêu từng người một.  Cần ý thức về tình yêu ấp ủ và trực tiếp của Chúa. Đừng làm như một kẻ vô danh trước mặt Chúa: những mối thân quen giữa Cha và các con mình là những sự quen biết thân mật, yêu thương qua lại. Chúa biết từng người một. Chúa không lẫn lộn ta với bất kỳ ai. Ngài biết tên, họ của ta; biết cuộc đời ta từng giờ, từng ngày...Ngài biết lịch sử ta từng dòng một, biết cả những gì chưa lộ ra, cả những gì mờ mờ đằng sau ý thức của ta. 

Ngài rảo bước theo ta từ bên nôi đến miệng huyệt; không có gì trong đời ta, nơi người ta mà Ngài không âu yếm, không nhìn đến. Khôngù một sợi tóc nào từ đầu chúng ta rơi xuống mà không có phép của Ngài; không phải như lá cây tự tách khỏi nhánh cây đâu.

Thành-vịnh 139   diễn tả quan phòng của Chúa một cách tuyệt vời:

  

“Lạy Giavê, Ngài thấu hiểu và biết con,

Ngài biết lúc con ngồi hay lúc chỗi dậy,

Từ xa, Ngài khám phá điều con suy nghĩ

Ngài nhìn con khi con cất bước hoặc nằm nghỉ

Ngài quen thuộc mọi nẻo đường của con đi.

 

Con chưa mở miệng nói,

Thì Gia-vê, Ngài đã biết hết rồi.

Ngài đặt tay trên con,

Ôm ẵm,dỗ dành con trước mặt và cả sau lưng!

Hiểu biết của Ngài quá kỳ diệu

Qúa cao siêu làm sao con với tới đây!

 

            Con đi đâu xa khỏi thần trí Ngài

            Trốn ở đâu thoát khỏi nhan thánh? 

Nếu con leo đến trời xanh, Ngài đã có đãy;

Nếu con vào lửa mặt trời, Ngài lại ở đây!

Nếu con từ hừng đông cất cánh,

Và cư ngụ tận góc biển khơi,

Thì bàn tay Ngài vẫn dẫn lối con đi

Và tay phải Ngài luôn che chở.

 

Và con lên tiếng: Tối tăm che lấp con mất,

Bóng đêm xóa bóng con mất!

Thế nhưng, trong đêm tối Chúa luôn nhìn rõ

Với Ngài, đêm đen vẫn sáng như ngày

Và tối sáng có khác gì nhau!

 

Chính Ngài đã tạo nên hình hài con,

            Và đã kết dệt nên con ngay trong bụng mẹ,

            Khi con chỉ là một mầm non chưa định hình,

            Thì mắt Ngài đã thấy con,

 Và ngày tháng dành cho con để sống,

            Tất cả đều ghi nơi sổ sách của Ngài

            Trước khi chúng con xuất hiện.

 

Lạy Thiên Chúa, ý tưởng của Chúa tuyệt vời,

Và biết bao nhiêu là ý tưởng!

Nếu con muốn đếm,

Hẳn chúng còn hơn,

trăm vạn lần hơn cát biển đông;

Con tỉnh dậy, và con còn ở với Chúa”! 

Chúa yêu chúng ta và Ngài biết hết mọi sự, Ngài thông hiểu chúng ta. Chúa thông cảm chúng ta trong cái nhìn tốt lành nhất, thật là hạnh phúc!  Và được ai thông cảm, thật hiếm hoi! Bloy viết rằng “Phải sống với tôi thật gần để có thể gọi là bạn tôi”. Chúa hết sức gần gũi chúng ta, bên cạnh chúng ta, trong cuộc sống chúng ta. Chúa luôn nhìn khía cạnh tốt của ta. Ngài tha thứ ngay khi ta tỏ ra có một chút thiện chí, dù thiện chí đó cũng là ơn của Ngài.

Chúa yêu chúng ta, và Ngài gìn giữ chúng ta trên mọi nẻo đường ta đi. Thánh-kinh cho chúng ta hay Ngài đã ủy thác cho thiên thần coi sóc chúng ta, và còn nói thêm rằng Chúa đã đếm tất cả những đốt xương của chúng ta.

Thánh-kinh cũng mặc khải rằng đôi khi Ngài đến gần chúng ta từ từ và hết sức tế nhị. Khi Maria Malađêna thấy Thầy gần mộ, trong Vườn Cây-dầu vào sáng Phục sinh, bà tưởng đó là người làm vườn.

Khi các tông đồ thấy Ngài hiện ra trên làn sóng giữa hồ, họ ngỡ là ma. Khi các môn đệ trên đường Êmau đi cạnh Ngài, họ nghĩ là một người đi đường, không biết đến gì nổi lo âu của họ.

  

3.  Nhân loại thiếu vắng Cha

Để hiểu rõ hơn niềm tin vào Thiên Chúa là Cha mọi người thật sự là một hồng ân và nguồn sống, tôi xin trích ra đây cảm tưởng của Jean Rostand, một tác giả nổi tiếng với nhiều tác phẫm bàn về vị thế của sinh-học trong nền văn hóa hiện đại, một thành viên Hàn-lâm-viện Pháp, và cũng là một người không tin; ta sẽ nhận ra lời nhân chứng qua nét tương phản của đoạn văn: 

“Con người, vâng, con người chỉ là một nguyên tử bấp bênh, trôi dạt trong vũ trụ vô hồn và bất tận; con người ấy biết rằng sinh hoạt bung xung của mình chỉ là một hiện tượng nhỏ nhoi, giới hạn, không nghĩa lý gì mà cũng không đạt được mục tiêu gì. Nó biết rằng các giá trị của nó cũng chỉ quan hệ đến nó mà thôi; kỳ thực nhìn từ không gian thời gian của các tinh tú, thì một vương quốc có sụp đổ, hoặc ngay cả một lý tưởng bị phôi phai, có gì đáng kể hơn là tổ kiến bên đường bị bàn chân người qua lại dẫm nát. 

Vì thế, con người chỉ còn biết tìm cách quên đi cảnh bao la ghê rợn đang nghiền nát mình một cách dửng dưng. Nó cố đẩy lui cơn lốc khô cằn gây choáng váng, bịt tai để không còn cảm được sự thinh lặng kinh hoàng của vô tận không gian: con người muốn mình thoát khỏi vướng mắc của vũ trụ cũng như vũ trụ kia vốn vô tình đối với mình. Co rúm vào trong thế giới riêng của mình, con người cần cù, khốn khổ thực hiện những dự tính nhỏ nhen, giả vờ làm như đang đứng đắn nhìn về mục tiêu vĩnh cửu”. 

Tôi thêm vào đoạn văn trên, một lời báo tang trên một tờ nhật báo, lời báo tang cũng đáng làm ta suy nghĩ:

“Chúng tôi báo tin ông X...đã đi vào cõi hư vô... xin miễn thăm viếng, miễn phân ưu.  Cuộc sống vẫn tiếp tục”.

 

4- Tình Phụ-tử và Mẫu-tử  nơi Thiên Chúa 

Cha có tên là âu yếm

Cha có tên là tươi xanh

Cha có tên là yêu mến

Cha có tên là Cha

Cha có tên là Mẹ

Cha có tên là đỡ đần [2] 

Khi gọi Chúa là “Cha” chúng ta không hạn hẹp nội dung chữ cha vào âm hưởng đàn ông: những qui chiếu về phái tính lại không nằm trong phạm vi yêu thương của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con”: Các môn đệ của Thầy dĩ nhiên trung thành với ngữ vựng nầy, nhưng cũng trung thành với nội dung ấy. Và Thánh-kinh nêu lên nhiều hình ảnh về phái nữ để nói lên tình yêu của Chúa Cha. Thánh-kinh ghi rằng: 

“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của

mình...Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ”

(Is. 49, 15). 

Trong Cựu-ước, ta cũng thấy một hình ảnh người Cha được trình bày dưới những nét của bà mẹ: 

“Vì Sion từng nói:

Giavê đã bỏ tôi, Chúa đã quên tôi!

Có phụ nữ nào quên được con mình nuôi dưỡng,

Không thương con mình đã mang nặng đẻ đau?  Cho dù có người quên được con mình như thếá!

Thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ”.

Đây,Ta đã ghi khắc ngươi trên lòng bàn tay Ta"û

(Is.49,14-16)

  

Và một nơi khác: 

“Như mẹ hiền an ủi con thơ,

Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy"õ

 (Is. 66, 13) 

Chúng ta không vẽ bày thêm thắt tình yêu Chúa Cha, vì tình yêu nầy kỳ thực ôm trọn tất cả sự phong phú, đa dạng của tình yêu nhân loại dưới mọi hình thức: lứa đôi, con cái, anh em, bằng hữu.  Để mặc khải cho chúng ta khuôn mặt người Mẹ nơi tình yêu của Ngài, Chúa đã không thúc đẩy tạo ra một lối xưng hô phái nữ, nhưng Ngài đã ban cho chúng ta một bà mẹ nhân trần: Mẹ Maria, Mẹ được Chúa đổ đầy ơn phúc, cho Mẹ và cho chúng ta, là dụng cụ tuyệt vời của chính lòng mến yêu của Ngài.

Chúa Giêsu không để lại cho chúng ta các sách thông thái làm gia sản. Ngài đã chọn một phương thế khác để con cái Ngài nhìn ra lòng yêu thương sâu thẳm của Cha Ngài: Ngài kể một câu truyên (có thể là chuyện cảm động nhất trong Phúc-âm ) về đứa con trai hoang đàng. Ở đây hình ảnh nổi bật không phải là người con, nhưng là hình ảnh người cha không ngừng chờ đón đứa con hoang trở về. Khi thoáng thấy con mình từ xa, trái tim Cha đã đến đón tiếp. Niềm vui của Cha tóm lại trong một câu: -”Con của Cha”-. Con ta đã chết và nay đã trở về cuộc sống; nó đã mất và nay ta đã tìm lại được”. Cha yêu thương và quên hết, không để cho con còn có giờ để diễn tả lòng hối tiếc


[1] Năm Chúa Cha có thể là dịp xem kỹ lại lời cầu xin thứ sáu của Kinh Lạy Cha : "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ". Lời cầu xin nầy có thể làm cho người ta nghĩ rằng Chúa thử thách chúng ta, điều nầy trái ngược lại với Thánh Kinh ( xem chương 1 Thư của Thánh Giacôbê). Trong lúc tôi đang viết những dòng nầy, tôi được báo chí cho biết các giám mục Úc đang xin Tòa Thánh nêu lên một lối diễn tả tránh được sự trái nghĩa nầy. Củng cần xem thêm: La Revue théologique de l'Université de Louvain, 1995, tập số 3, tr. 306, trình bày rõ về chi tiết liên hệ. 

[2] Trích sách "Francois" của Auguste Valentin S.J. 

Tác giả: Gs. Nguyễn Đăng Trúc

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!