Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử    Giáo Sĩ Việt Nam    Số 62, Chúa Nhật 09.03.2008


   CÁC SỐ BÁO ĐÃ PHÁT HÀNH             MỤC LỤC 

Mầu Nhiệm Giáo Hội                                     Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội - Lumen Gentium

Học Hỏi Học Thuyết Xã Hội Công Giáo                                                               Huynhquảng

NHƯ LỜI CẦU KINH -        Lm. ANTHONY DE MELLO     Nhà Văn  Hương Vĩnh chuyển ngữ

NGẮM BẨY SỰ THƯƠNG VÀ SỰ MỪNG KÍNH THÁNH CẢ GIUSE             Lm Giuse Hoàng Kim Đại Sưu tập  

MỘT THẾ GIỚI HOẢNG SỢ                                                           Bác Sỹ Nguyễn Tiến Cảnh

KHU VƯỜN Ô-LIU                                                             Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ LINH MỤC ĐỒNG TẾ và BỔNG LỄ                 Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

BẰNG HÀNH ĐỘNG KHÔNG BẰNG LỜI NÓI (2)                                     Lm. Lê Văn Quảng

Vâng, con đồng ý                                                      Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy, pss.

Bao Tử Với Sự Tiêu Hóa Thực Phẩm                                                   Bác Sỹ Nguyễn Ý-Đức

CHỌN LỰA -                                                                                Chuyện phiếm của Gã Siêu


Mầu Nhiệm Giáo Hội

Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II

 

Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội - Lumen Gentium

 

Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


 

Chương I

Mầu Nhiệm Giáo Hội 1*

 

1. Giáo Hội, bí tích trong Ðức Kitô. Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội, bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật (x. Mc 16,15). Vì Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên, dựa trên giáo huấn của các Công Ðồng trước, Giáo Hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới. Những hoàn cảnh hiện tại làm cho nhiệm vụ của Giáo Hội thêm khẩn thiết hơn, để ngày nay mọi người liên hệ chặt chẽ hơn bởi nhiều ràng buộc xã hội, kỹ thuật, văn hóa, cũng được hiệp nhất trọn vẹn trong Chúa Kitô. 2*

2. Ý định cứu chuộc phổ quát của Chúa Cha. 3* Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm, Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài đã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Adam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô, Ðấng Cứu Thế, "là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật" (Col 1,15). Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha "đã biết trước và đã tiền định cho họ trở nên giống hình ảnh Con Chúa, hầu người Con đó được trở nên Trưởng Tử trong nhiều anh em" (Rm 8,29). Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo Hội. Từ nguyên thủy, Giáo Hội được phác thảo bằng hình bóng, được chuẩn bị kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong giao ước cũ 1, được thành lập trong thời cuối cùng, và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần ngự xuống, rồi đến ngày tận thế sẽ kết thúc trong vinh quang. Bấy giờ, như chúng ta đọc thấy nơi các Giáo Phụ, mọi người công chính từ Adam, "từ Abel công chính đến người được tuyển chọn cuối cùng" 2 sẽ được tập họp trong Giáo Hội phổ quát bên Chúa Cha.

3. Sứ mạng và công cuộc của Chúa Con. Thế là Chúa Con được phái đến do Chúa Cha, Ðấng đã tuyển chọn chúng ta nơi Người trước khi tạo dựng vũ trụ và tiền định chúng ta làm dưỡng tử, vì Ngài mong ước cải tạo tất cả trong Chúa Con (x. Eph 1,4-5 và 10). Bởi thế, để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Chúa Kitô đã khai nguyên nước trời nơi trần gian, mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm của Ngài, và thực hiện việc cứu thế bằng việc vâng phục Chúa Cha. Giáo Hội hoặc nước Chúa Kitô đã hiện diện cách mầu nhiệm, nhờ thần lực Thiên Chúa, phát triển trong thế gian cách hiển nhiên. Sự khai nguyên và phát triển đó được biểu thị bằng máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu chịu đóng đinh (x. Gio 19,34) và được tiên báo qua lời Chúa nói về cái chết của Người trên thập giá: "Và Ta, khi bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta" (Gio 12,32, bản Hy lạp). Mỗi lần hy lễ thánh giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó "Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế" (1Cor 5,7), thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện. Bí tích Thánh Thể cũng biểu thị và thực hiện sự hiệp nhất các tín hữu, là những kẻ hợp thành một thân thể, trong Chúa Kitô (x. 1Cor 10,17). Mọi người đều được mời gọi kết hiệp cùng Chúa Kitô như vậy. Người là ánh sáng thế gian. Chúng ta phát xuất từ Người, sống nhờ Người và hướng về Người.

4. Việc thánh hóa Giáo Hội của Chúa Thánh Thần. Khi công trình Chúa Cha trao phó cho Chúa Con thực hiện trên trần gian đã hoàn tất (x. Gio 17,4) Chúa Thánh Thần được phái đến trong ngày lễ Hiện Xuống để thánh hóa Giáo Hội mãi mãi, và như thế những ai tin sẽ được tới cùng Chúa Cha qua Chúa Kitô trong một Thần Khí duy nhất (x. Eph 2,18). Chính Ngài là Thánh Thần ban sự sống, là mạch nước vọt lên sự sống vĩnh cửu (x. Gio 4,14; 7,38-39), nhờ Ngài, Chúa Cha hồi sinh những kẻ đã chết vì tội lỗi, đợi đến khi phục sinh thân xác hay chết của họ trong Chúa Kitô (x. Rm 8,10-11). Chúa Thánh Thần ngự trị trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự giữa đền thờ (x. 1Cor 3,16; 6,19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử (x. Gal 4,6; Rm 8,15-16 và 26). Ngài dẫn đưa Giáo Hội trong hiệp thông và phục vụ. Ngài huấn luyện và dẫn dắt Giáo Hội bằng muôn ơn theo phẩm chức và đoàn sủng, trang điểm Giáo Hội bằng hoa quả của Ngài (x. Eph 4,11-12; 1Cor 12,4; Gal 5,22). Nhờ sức mạnh Phúc Âm, Ngài là tươi trẻ, không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo Hội đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân mình 3. Thực vậy, Chúa Thánh Thần và Hiền Thê nói cùng Chúa Giêsu rằng: "Xin hãy đến" (x. Kh 22,17).

Như thế Giáo Hội phổ quát xuất hiện như "một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" 4.

5. Nước Thiên Chúa. 4* Mầu nhiệm Giáo Hội thánh thiện được biểu lộ trong chính việc thành lập. Thực thế, Chúa Giêsu đã khai sinh Giáo Hội bằng việc rao giảng Phúc Âm rằng Nước Thiên Chúa đã đến như đã hứa trong Thánh Kinh từ ngàn xưa: "Thời gian đã trọn, Nước Thiên Chúa gần đến" (Mc 1,15; x. Mt 4,17). Nước này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Kitô. Lời Chúa ví như hạt giống gieo trong ruộng (x. Mc 4,14): ai tin nghe lời Chúa và gia nhập đàn chiên nhỏ của Chúa Kitô (x. Lc 12,32), thì đã đón nhận chính Nước Ngài; rồi tự sức mình, hạt giống nẩy mầm và lớn lên cho đến mùa gặt (x. Mc 4,26-29). Các phép lạ của Chúa Giêsu cũng chứng minh rằng Nước Ngài đã đến thế gian: "Nếu Ta dùng ngón tay Thiên Chúa để trừ ma quỉ, ắt Nước Thiên Chúa đã đến nơi các ngươi rồi" (Lc 11,20; x. Mt 12,28). Nhưng trước tiên, Nước ấy biểu lộ trong chính con người Chúa Kitô, Con Thiên Chúa và Con loài người, Ðấng đã đến "để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc thiên hạ" (Mc 10,45).

Vì sau khi chịu chết trên thập giá cho nhân loại, Chúa Giêsu đã phục sinh, nên Người được phong làm Chúa, làm Ðấng Kitô và làm Linh Mục muôn đời (x. CvTđ 2,36; Dth 5,6; 7,17-21); và Người đổ tràn Thánh Thần mà Chúa Cha đã hứa trên các môn đệ Người (x. CvTđ 2,33). Vì thế, với ân huệ của Ðấng sáng lập, và trong khi trung thành tuân giữ các giới răn bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Giáo Hội đã lãnh nhận sứ mệnh rao truyền và thiết lập Nước Chúa Kitô và Nước Thiên Chúa trong mọi dân tộc; Giáo Hội là mầm mống và khai nguyên Nước ấy trên trần gian. Ðang lúc từ từ phát triển, Giáo Hội vẫn khát mong Nước ấy hoàn tất và thiết tha hy vọng, mong ước kết hợp với Vua mình trong vinh quang. 5*


Chú thích:

1* Hai chương đầu của Hiến chế tín lý về Giáo Hội nhằm trình bày mầu nhiệm Giáo Hội trong ý định cứu rỗi của Thiên Chúa như Thánh Kinh đã mạc khải, trước khi phân tích cơ cấu phẩm trật (ch. III) và tác động siêu nhiên.

Sau khi đã xác định Giáo Hội khai sinh từ Mầu Nhiệm Ba Ngôi, chương I của Hiến Chế tìm hiểu những danh xưng và những hình ảnh khác nhau mà Thánh Kinh xử dụng để chỉ Giáo Hội, đặc biệt nhấn mạnh tới danh xưng của Thánh Phaolô gọi Giáo Hội là "Thân Thể Chúa Kitô" (các số 5-7), nhưng không tuyệt đối theo cách gọi đó. Sau cùng, chương I còn cắt nghĩa thực tại Giáo Hội trong tình trạng cụ thể (số 8).

2* Số 1: Nhập đề

Ðây là phần nhập đề tổng quát, nói lên chiều hướng riêng biệt của Hiến Chế. Công Ðồng quả quyết sứ mệnh cứu rỗi phổ quát của Giáo Hội đã được Chúa Kitô trao phó, qua ý niệm bí tích phổ quát của ơn cứu rỗi. Ở đây, sự cứu rỗi được quan niệm dưới hình thức hợp thông với Ba Ngôi.

3* Các số 2-4: Giáo Hội từ Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi.

Các số này có sự thống nhất khá chặt chẽ về đề mục và cơ cấu, nói lên hoạt động của Ba Ngôi trong đời sống Giáo Hội. Giáo Hội khai sinh từ ý định tự do của Chúa Cha hằng hữu (số 2), ý định đó được thực hiện qua sứ mệnh của Chúa Con (số 3), và được bổ túc nhờ sự thánh hóa mà Chúa Thánh Thần đem đến (số 4). Như vậy chúng ta thấy rõ Giáo Lý Công Giáo về Giáo Hội được xây dựng trên tín điều căn bản của Kitô giáo. Công Ðồng nói theo kiểu nói của Thánh Kinh chứ không theo kiểu nói thần học. Và không muốn giải quyết vấn đề: phải hiểu những hoạt động của Ba Ngôi như thế nào. Câu sau cùng của số 4 bao gồm chủ đích và nội dung của số đó.

1 Xem T. Cyprianô, Epist. 64,4: PL 3,1017; CSEL (Hartel), III B, trg 720. T. Hilariô Pict., In Mt. 23,6: PL 9,1047. T. Augustinô, nhiều chỗ khác. T. Cyrillô Alex. Glaph. in Gen. 2, 10: PG 69, 110A.

2 T. Gregoriô Cả. Hom. in Evang. 19,1: PL 76,1154 B. Xem T. Augustinô, Serm. 341, 9,11: PL 39,1499t. T. Gio. Damascenô, Adv. Iconoct. 11: PG 96,1357.

3 Xem T. Ireneô, Adv. Haer. III, 24, 1: PG 7, 966 B; Harvey 2, 131; x. b. Sagnard, Sources Chr., trg 398.

4 T. Cyprianô, De Orat. Dom. 23 : PL 4, 553: Hartel, III A, trg 285. T. Augustinô, Serm. 71, 20, 33: PL 38, 463t. T. Gioan Damascenô, Adv. Iconocl. 12: PG 96, 1358 D.

4* Các số 5-7: Giáo Hội trong lịch sử cứu rỗi.

Các số này trình bày sự hiện diện và hoạt động siêu nhiên của Thiên Chúa qua Giáo Hội trong công cuộc cứu độ. Công Ðồng muốn giải thích ý định cứu rỗi của Ba Ngôi thực hiện qua Giáo Hội (các số 2-4) tiến triển như thế nào trong lịch sử cứu rỗi. Việc đó phải nhờ vào sự phân tích tỉ mỉ những cách diễn tả của mạc khải Thánh Kinh. Như thế trong số 5, Công Ðồng nói về Giáo Hội như một Nước Thiên Chúa ở trần gian; số 6 trình bày những hình ảnh và những hình bóng khác nhau mà Thánh Kinh xử dụng để mô tả Giáo Hội như là việc của Thiên Chúa; và sau cùng, trong số 7, Công Ðồng giải thích sâu xa hơn về Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô, theo sát với giáo lý của Thánh Phaolô.

5* Số 5: Giáo Hội là Nước Chúa.

Nước phải hiểu theo nghĩa Thánh Kinh chứ không chỉ nguyên nghĩa xã hội, tức là phải hiểu như là một hành động cai trị (chính sự thống trị) hơn là sự nới rộng đất đai (hiệu quả của hành động thống trị). Trong viễn tượng ấy, Công Ðồng quả quyết có hai sự kiện tạo nên Giáo Hội, tức là Nước Thiên Chúa: hoạt động của Chúa Kitô trước Phục Sinh trong đó Nước Thiên Chúa (theo ý nghĩa đã giải thích) đã được biểu lộ, và việc Chúa thiết lập qua Mầu Nhiệm Phục Sinh. Như thế, ngay cả những yếu tố giúp Nước Thiên Chúa thực hiện cũng đã được phác họa:

a/ Yếu tố siêu nhiên: Là những hồng ân mà Vị Sáng Lập Giáo Hội ban cho (tổng kết: là ơn trọng đại của Chúa Thánh Thần);

b/ Yếu tố luân lý: Chấp nhận những đòi hỏi tinh thần về việc Chúa thống trị trên con người, một cách tự do và toàn vẹn;

c/ Yếu tố thừa sai: Giáo Hội lãnh nhận từ Ðấng Sáng Lập sứ mệnh loan báo và tạo lập sự thống trị này của Thiên Chúa trên mọi người;

d/ Yếu tố cánh chung: Việc thống trị ấy còn bất toàn trên trần gian, bởi vậy khuynh hướng cánh chung của toàn thể Giáo Hội hướng tới một Nước hoàn hảo phải được thực hiện trong thời sau hết (x. số 48c).

5 Xem Origenê, In Mat 16,21: PG 13, 1443 C. Tertullianô, Adv. Marc. 3,7: PL 2, 357 C; CSEL 47,3 trg 380. Về tài liệu phụng vụ, xem Sacramentarium Gregorianum: PL 78,160 B. Hoặc C. Mohlberg, Liber Sacramentorum Romanae Ecclesiae, Roma, 1960, trg 111, XC: "Thiên Chúa không bị ràng buộc đã ban cho ngươi nơi cư ngụ vĩnh cửu của các thánh...". Ca ngợi Urbs Jerusalem beata trong sách kinh nhật tụng đan viện, và Coelestis urbs Jerusalem trong sách kinh nhật tụng Roma.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
Học Hỏi Học Thuyết Xã Hội Công Giáo

II. Con Người

A. Phẩm Giá, Sự Tự Do và Tính Xã Hội ( số 39 – 65) (tiếp theo)

16. Thế nào là tự do đích thực?

Chúa Giêsu đã phán: “Sự thật sẽ giải thoát các con” (Jn 8: 32). Như vậy, điều kiện tiên quyết để có sự tự do đích thực là con người phải gắn liền với sự thật. Vì chỉ trong sự thật thì sự tự do mới được viên mãn. Đồng thời, để có thể tiếp cận được sự thật, con người cần phải tránh mọi kiểu tự do hão huyền, giả tạo. Vì những kiểu tự do giả tạo này sẽ không dẫn ta vào sự thật về con người và về thế giới. (cf. Redemptor Hominis, # 12)

17. Không có tự do đích thực thì phẩm giá của con người có được tôn trọng không?

Thưa không. Trong thế giới ngày nay, con người dễ dàng lẫn lộn giữa sự tự do đích thực và tự do phóng túng. Nhân danh sự tự do, có nhiều người hành động một cách không có ý thức về luân lý, tức là coi thường phẩm giá con người. Vậy khi chúng ta không có tự do đích thực, nghĩa là chúng ta không sống trong sự thật, thì phẩm giá con người cũng không được tôn trọng.  

18. Con người có mang tính xã hội không?

Thiên Chúa là Cha, theo ý định yêu thương của Ngài,  đã tạo dựng loài người trong một gia đình nhân loại, vì thế con người nên cư xử với nhau theo tình anh em. Tính xã hội nơi con người được minh chứng cụ thể rằng: sự phát triển của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của xã hội; điều này luôn luôn hổ tương cho nhau. Thực tế cho thấy, mục đích ban đầu của các thể chế xã hội là nhằm phục vụ con người, và đây cũng là bản chất của xã hội loài người. Chính vì thế, xã hội tính nơi con người không phải là một đặc tính được thêm vào cho con người, nhưng là xuyên qua quá trình làm việc, trao đổi, đối thoại con người phát triển mọi khả năng của mình để cùng giúp nhau đi tới vận mệnh chung của mình. 

19. Nguyên nhân nào làm cho con người đánh mất tính xã hội để rơi vào chủ nghĩa cá nhân?

Ngày nay, nhiều cá nhân thường bị bóp nghẹt giữa hai cực: Nhà nước và thị trường. Sự hiện hữu của mỗi cá nhân như là những công cụ để sản xuất và tiêu thụ, hoặc như là đối tượng cho việc quản lý của nhà nước. Vì thế, nhiều người dễ dàng đánh mất sự thật rằng: mục đích đời sống xã hội không phải là nhà nước hay thị trường, nhưng tự bản chất, đời sống xã hội mang một giá trị độc đáo mà nhà nước và thị trường phải phục vụ cho giá trị ấy. Chính sự lầm lẫn nghiêm trọng này, con người mất khả năng nhận thức về sự liên đới trong cộng đồng nhân loại, dẫn đến hậu quả là đề cao chủ nghĩa cá nhân thay vì xã hội tính nơi mỗi người. 

20. HTXH đề cập đến trách nhiệm xây dựng xã hội của mỗi cá nhân như thế nào?

Mỗi một cá nhân là thành viên của gia đình nhân lọai. Tất cả mọi người đều được mời gọi đóng góp vào sự phát triển của nhân loại. Tất cả các nền văn mimh được sinh ra, phát triển và chết đi, nhưng loài người luôn phát triển theo dòng lịch sử. Mỗi chúng ta đều được thừa hưởng những di sản của tổ tiên và tiếp tục được hưởng những thành quả của xã hội đương đại. Ví lý do này, mỗi người phải có bổn phận xây dựng xã hội không phải chỉ vì cho chúng ta hôm nay, mà còn phải có trách nhiệm để lại những giá trị quí báu cho thế hệ mai sau.

Huynhquảng

VỀ MỤC LỤC
LỜI CẦU KINH CỦA CON ẾCH

 

NHƯ LỜI CẦU KINH - ANTHONY DE MELLO 

Hương Vĩnh chuyển ngữ

1.- LỜI CẦU KINH CỦA CON ẾCH   

Một đêm kia khi thầy Bruno đang cầu nguyện, thầy bị quấy rầy bởi tiếng ộp ộp của một con ễnh ương. Mọi cố gắng của thầy để phớt lờ âm thanh đó đều vô hiệu nên từ cửa sổ, thầy la lớn: "Im đi!  Ta đang cầu nguyện!

Vì thầy Bruno là một vị thánh nên lệnh của thầy được tuân hành ngay. Mọi sinh vật đều im hơi lặng tiếng, nhằm tạo sự thinh lặng thuận lợi cho việc cầu nguyện của thầy.

Nhưng giờ đây một âm thanh khác xâm nhập vào việc thờ phượng của thầy Bruno – một tiếng nói từ bên trong nói rằng: "Có thể Chúa cũng ưa thích tiếng ộp ộp của con ếch đó như tiếng hát những bài Thánh Vịnh vậy.” Thầy Bruno đáp lại với vẻ khinh miệt: " Tiếng ồp ộp của một con ếch có gì mà làm Chúa nghe lọt tai?"  Nhưng tiếng nói đó không chịu từ bỏ: "Con có nghĩ tại sao Chúa đã tạo nên âm thanh không?

Thầy Bruno quyết định khám phá cho biết tại sao. Thầy ngả người ra ngoài cửa sổ và ra lệnh: "Hát lên đi!" Tiếng ộp ộp đều đặn của con ễng ương tràn lan không trung cùng với sự phụ hoạ buồn cười của mọi con ếch ở xung quanh đó. Và khi thầy Bruno chú trọng vào âm thanh thì những giọng kêu của chúng không còn làm thầy chói tai nữa, bởi vì thầy khám phá ra rằng nếu thầy không còn kháng cự chúng nữa thì chúng thực sự đang làm phong phú hóa sự tĩnh mịch của đêm trường. 

Nhờ sự khám phá đó, con tim thầy Bruno đã hòa nhịp với vũ trụ và lần đầu tiên trong đời, thầy mới hiểu cầu nguyện nghĩa là gì.

 

2.- THẦY GIÁO TRƯỞNG DO THÁI NHẢY MÚA  

Một câu chuyện trong sách Ha-si đim (Hasidim)

Những người Do Thái ở một tỉnh nhỏ bên nước Nga rất nóng lòng chờ đợi thầy giáo trưởng tới. Đó sẽ là một biến cố hiếm hoi nên họ đã để nhiều thời giờ chuẩn bị những câu hỏi mà họ sẽ đặt ra cho con người thánh thiện đó. 

Cuối cùng khi thầy giáo trưởng đến và họ gặp thầy ở tòa thị chính, thầy có thể cảm nhận bầu khí căng thẳng khi mọi người sẵn sàng lắng nghe những câu trả lời mà thầy để dành cho họ.  

Trước hết, thầy không nói gì; thầy chỉ nhìn chằm chằm vào đôi mắt họ và ngậm miệng ngân nga một giai điệu lặp đi lặp lại. Rồi mọi người bắt đầu ngậm miệng ngân nga theo. Thầy bắt đầu hát và họ hát theo thầy. Thầy lắc lư và nhảy múa khoan thai, với những bước chân có chừng mực. Toàn thể giáo đoàn bước theo thầy như vậy.  

Chẳng bao lâu, họ dồn hết tâm trí vào cuộc nhảy múa cho đến nỗi họ bị cuốn hút vào những động tác mà quên đi những gì khác ở trên mặt đất. Vì vậy mỗi người thuộc đám đông đó làm thành một tổng thể được chữa lành khỏi sự rạn nứt từ bên trong đã cầm giữ chúng ta xa rời Chân Lý. 

Cũng phải mất gần một tiếng đồng hồ trước khi cuộc khiêu vũ chậm lại để rồi chấm dứt.  Với sự căng thẳng được gỡ khỏi nội tâm con người, ai nấy ngồi xuống trong sự an bình thinh lặng tràn lan căn phòng. Rồi vị giáo trưởng nói những lời duy nhất tối hôm đó: "Tôi tin chắc tôi đã trả lời các câu hỏi của quý vị rồi". 

Người ta hỏi một vị tu sĩ Hồi giáo tại sao ông ta thờ phượng Chúa bằng cách nhảy múa. Ông trả lời: "Vì thờ phượng Chúa có nghĩa là chết cho chính mình; sự nhảy múa giết chết cái tôi. Khi cái tôi chết, mọi vấn nạn chết theo với nó. Nơi nào vắng bóng cái tôi, ở đó có Tình Thương, ở đó có Thiên Chúa".

VỀ MỤC LỤC
NGẮM BẨY SỰ THƯƠNG VÀ SỰ MỪNG KÍNH THÁNH CẢ GIUSE
 

(Lm JB. Trần Đức Huyên)

- Thứ nhất: Khi Thánh Giuse đã đính hôn với Đức Mẹ, mà Người thấy Đức Mẹ mang thai, thì lòng người đau đớn bối rối biết chừng nào, nhưng chẳng dám hồ nghi sự trái cho Đức Mẹ; tuy nhiên khi được thiên thần báo tin cho biết: việc ấy là do quyền năng Chúa Thánh Thần, và Thánh Cả được chọn làm Cha nuôi Đấng Cứu Thế, thì Người rất đỗi vui mừng. Ta hãy xin cho được ơn trông cậy phó thác, và đừng cố tình nghĩ xấu cho ai bao giờ. Amen.

 - Một kinh Lạy Cha.

 - Một kinh Kính Mừng Giuse :

 “Kính mừng Giuse, đầy ơn Chúa, Đấng Cứu Thế được Ngài âu yếm dưỡng nuôi, và tận tình chăm nom săn sóc. Ngài thật diễm phúc hơn hết mọi người nam, và Giêsu Con Chí Thánh của bạn thanh khiết Ngài thật diễm phúc.

 Thánh Giuse, Cha nuôi Con Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con trong những lo âu hồn xác hiện nay, và xin thương phù giúp chúng con trong giờ lâm tử. Amen.

- Một kinh Sáng Danh. 

 

- Thứ hai: Khi Thánh Giuse cùng Đức Mẹ về quê cha đất tổ là Belem để làm sổ kiểm tra, mà Đức Mẹ đã đến ngày sinh, nhưng không tìm được chỗ trọ, phải ra trú chân tại hang đá trống trải, thì Thánh Giuse buồn sầu khôn xiết; nhưng khi Chúa Con chào đời, Thánh Giuse đã được nghe ca đoàn các thiên thần hát mừng, thấy mục đồng và các đạo sĩ từ xa đến kính viếng, thì Người vui mừng vô hạn. Ta hãy xin cho được lòng tin mạnh mẽ, sống tốt lành, để sau này được hợp tiếng cùng các thiên thần ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.        

(Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.)   

 

 - Thứ ba: Khi đến ngày Chúa Giêsu chịu phép cắt bì, Thánh Giuse được chứng kiến những giọt máu đầu tiên Chúa Hài Nhi đổ ra, thì Người đau đớn lắm, nhưng khi Ngài được vinh dự đặt tên và được kêu tên cực trọng Giêsu Đấng Cứu Độ trần gian trước hết, thì Người cảm thấy hạnh phúc và vui mừng biết chừng nào. Xin cho ta biết hy sinh hãm mình, và trong giờ lâm tử, được sốt sắng kêu tên cực trọng ấy lần cuối cùng. Amen.    (Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.)    

 - Thứ bốn: Khi làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, Thánh Giuse được nghe ngôn sứ Si-mê-on tiên báo những đau khổ mà Chúa Giêsu và Đức Mẹ phải chịu sau này, thì Thánh Giuse đau đớn như bị gươm sắc đâm vào lòng; nhưng rồi lại được nghe báo trước về ơn cứu độ của Dân Chúa và ánh sáng Tin Mừng chiếu soi cho muôn dân, thì Người vui mừng khôn tả. Xin cho ta được kể vào số những người được ơn cứu độ và được hưởng ánh vinh quang của Chúa muôn đời. Amen.

 (Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.) 

- Thứ năm: Khi thiên thần truyền cho Thánh Giuse phải trốn sang Ai-cập giữa đêm khuya, thì Người buồn sầu lo lắng cho Chúa Hài Nhi và Đức Mẹ; nhưng vì thấy Chúa Giêsu thoát khỏi tay bạo vương Hê-rô-đê, thì Người vui mừng hết sức. Xin cho ta biết xa lánh mưu chước ba thù là ma quỷ, xác thịt và thế gian, và được luôn sống với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh cả Giuse. Amen.  
 (Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.)  

 - Thứ sáu: Khi ông Thánh Giuse được lệnh đưa Chúa Giêsu và Đức Mẹ về xứ Giu-đê-a, nhưng lại sợ vua Hê-rô-đê A-kê-lao, nối quyền cha là kẻ đã tìm giết Chúa Giêsu, thì Thánh Giuse lo lắng băn khoăn trong lòng, nhưng khi thiên thần lại chỉ dạy về Na-da-rét, thì Người an tâm và vui vẻ thi hành lệnh truyền. Xin cho ta được thoát khỏi mọi lo âu hồn xác, và được bình an sống thân mật với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse suốt đời. Amen.

 (Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.)  

 - Thứ bảy: Khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, đi dự lễ đền thờ Giê-ru-sa-lem, khi về Thánh Giuse và Đức Mẹ lạc mất người, thì Thánh Giuse đau lòng sầu não dường nào, nhưng sau ba ngày, Người đã tìm thấy Chúa Giêsu ở giữa các thầy thông luật trong đền thờ, thì Người vui mừng khôn xiết. Xin cho ta được phúc sống trong ơn nghĩa thánh đến hơi thở cuối cùng, và được chết lành trong tay Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse. Amen. 

(Lạy Cha, Kính Mừng Giuse và Sáng Danh.)   

         

THÁNH CẢ GIUSE TRONG THÁNH KINH

1. Mt 1,16-17 : Gia phả Đức Giêsu Kitô “Ông Giacóp sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô.”  

2. Mt 1,18-25 : Sứ thần Gabrien truyền tin cho thánh Giuse. Ngài là người công chính.  

3. Mt 2,13-18 : Thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Aicập.  

4. Mt 2,19-23 : Thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu từ Ai cập về đất Israel.   5. Mt 13,55 : Thánh Giuse là thợ mộc .  

7. Lc 2,1-14 : Thánh Giuse về Belem khai sổ và phục vụ Chúa Giêsu gíáng sinh. 

 8. Lc 2,15-20 : Người chăn chiên đến Belem gặp mẹ Maria, thánh Giuse và Hài Nhi.  

9. Lc 2,22-32 : Thánh Giuse và mẹ Maria tiến dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ. 

10. Lc 2,33-38 : Nghe ông Simêon tiên báo, cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên. 

11. Lc 2,39-40 : Thánh Giuse và mẹ Maria trở về Nagiarét.  

12. Lc 2,41-50 : Thánh Giuse và mẹ Maria tìm Chúa Giêsu trong Đền thờ.  

13. Lc 2,51-52 : Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét.  

14. Lc 3,23-38 : Gia phả Chúa Giêsu : “Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse”.

15. Lc 4,22 : Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?   
16. Ga 6,42 : Bài giảng về Bánh Trường Sinh : Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao ? 

 

VIỆC TÔN SÙNG THÁNH CẢ GIUSE TRONG LỊCH SỬ HỘI THÁNH

* Hội Thánh chính thức tôn kính thánh cả Giuse vào thế kỷ XIV.

* Năm 1621 qui định các bài đọc trong thánh lễ : 2 Sm 7,4-5a.12.14a-16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,18-25.    

* Cuối thế kỷ XVII, nguyên trong dòng Cát Minh người ta đã đếm được 150 nhà thờ mang thánh hiệu Giuse. (Phạm Đình Khiêm, Thánh Giuse Tuyệt Diệu, trang 44-48)    

* Ngày 8-12-1870, Đức giáo hoàng Piô IX đề nghị các nghị phụ Công Đồng Vatican I long trọng tôn phong Thánh Giuse là Bổn mạng của Hội Thánh; đồng thời quyết định ngày 19-3 lễ kính Thánh Giuse phải được mừng kính cách trọng thể. 

* Trong các văn kiện của Hội nghị giáo phận Bordeaux (Pháp) năm 1868, có ghi lại như sau: “Được hấp dẫn bởi gương sáng của Vị Chủ chăn tối cao, các tín hữu đã thi đua nhau trong việc sùng kính Thánh Tổ Phụ bằng những tâm tình bên trong và bằng cả những dấu hiệu bên ngoài nữa, như xây cất các đền thờ, lập các Dòng Tu, các Hội đoàn... kính nhớ Thánh Cả và đặt các giáo xứ, các gia đình dưới sự che chở của Ngài. Trong 32 năm Triều Giáo Hoàng của Đức Piô thứ IX đã có tới 65 Dòng Tu được thành lập mang tên Thánh cả Giuse hoặc theo Linh đạo của Ngài.”     

* Năm 1889, Đức giáo hoàng Lêô XIII truyền lấy tháng Ba hằng năm làm tháng tôn kính Thánh Giuse.     

* Năm 1955, Đức giáo hoàng Piô XII lập Lễ Thánh Giuse Thợ vào ngày lễ Lao Động 1-5. 

* Đức giáo hoàng Gioan XXIII đã đặt Công Đồng Vatican II, khai mạc ngày 11-10-1962, dưới sự bảo trợ của Thánh cả Giuse và ghi tên Thánh cả bên cạnh tên Đức Mẹ trong Kinh Nguyện Thánh Thể một.

Để như dấu hiệu cụ thể của lòng sùng kính, ngày 19.3.1961, Đức Gioan truyền tu bổ lại nhà nguyện và bàn thờ Thánh cả Giuse, bên phía tay mặt trong Đền thờ Thánh Phêrô, nơi cử hành Công đồng. Nơi thánh này phải trở nên như nơi gợi lên lòng đạo đức của mỗi tín hữu và của các đoàn hành hương.

Hai năm sau, cũng ngày 19.3.1963, ngài đã làm phép ảnh Thánh cả Giuse được trưng bày trong nhà nguyện này, nhân dịp mừng 38 năm tấn phong Giám mục.

Ngày 29.7.1961, ngài khuyên các Giám đốc chủng viện nhắn nhủ các chủng sinh hãy có lòng sùng kính cách riêng đối với Thánh Giuse. Và ngày 17.3.1963, trước lễ Thánh Cả, ngài khuyên các linh mục và anh chị em giáo dân của mọi thời đại hãy theo gương ngài trong việc sùng kính Thánh cả Giuse.   

* Huấn đức của Đức Gioan Phaolô II :

Anh chị em rất thân mến,

  Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse. Vào trung tâm của Mùa Chay, Phụng Vụ trình bày cho chúng ta vị thánh vĩ đại nầy như là mẫu gương để noi theo, và như là Đấng bảo vệ để chúng ta cầu khẩn.   
 

Trước hết, thánh Giuse là mẫu gương sống Đức Tin cho chúng ta. Như Tổ Phụ Abraham, thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên “lời ngài” đã phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Định của Chúa. Hơn nữa chúng ta được mời gọi noi gương ngài, trong việc khiêm tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi ngài trong nếp sống thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất. Trường học Nazareth là quý giá biết bao cho con người thời nay, bị bao vây bởi một nền văn hóa rất thường đề cao vẻ bề ngoài và sự thành công, đề cao sự độc lập và một quan niệm sai lầm về tự do cá nhân! Ngược lại, thật là cần thiết biết bao, việc phục hồi lại giá trị của sự đơn sơ và vâng phục, sự tôn trọng và yêu mến đi tìm thánh ý của Thiên Chúa!    

Thánh Giuse đã sống phục vụ cho vị hôn thê của mình và cho Con Thiên Chúa; và như thế, đối với các tín hữu, thánh Giuse trở thành chứng tá hùng hồn cho biết phải cai trị hay phục vụ như thế nào. Đặc biệt, tất cả những ai, trong gia đình, trong trường học và trong giáo hội, có trách vụ sống làm cha, làm người hướng dẫn, đều có thể nhìn về Thánh Giuse, để được huấn luyện sống tốt lành. Nhất là tôi nghĩ đến những người cha, mừng lễ của họ vào đúng ngày lễ dành cho thánh Giuse. Tôi cũng nghĩ đến tất cả những ai mà Thiên Chúa đã tuyển chọn trong Hội thánh để thực hiện “tình cha thiêng liêng”...  

Nguyện xin Thánh Giuse, vị thánh mà người tín hữu tin tưởng khẩn cầu, luôn hướng dẫn những bước tiến của đại gia đình Thiên Chúa. Xin thánh nhân hãy đặc biệt trợ giúp cho những ai đang chu toàn vai trò làm cha tự nhiên hoặc cha thiêng liêng.

Xin Thánh Giuse hãy cùng đồng hành với những lời khẩn cầu của chúng ta và xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta, Mẹ là vị hôn thê đồng trinh của Thánh Giuse và là Mẹ của Đấng cứu chuộc.”       

 

THÁNH GIUSE LÀ QUAN THẦY CỦA HỘI THÁNH TẠI VIỆT NAM 

1. Cha Đắc Lộ viết : Ngày 12-3, ngày lễ thánh Grêgôriô Cả, chúng tôi khởi hành từ Macao, và căng buồm theo chiều gió đưa chúng tôi đi qua kính chào mộ xưa kia chôn cất Thánh Phanxicô Xaviê ở đảo Tam Châu, rồi từ đó vào biển hải Nam. . . Đêm tới tàu chúng tôi bị một trận bão rất lớn, làm tàu lay chuyển rất hiểm nghèo và đồng thời trên không có sấm sét vạch thành những hình thù quái dị do ma quỷ gây nên làm cho thuỷ thủ sợ hãi. Mãi tới sáng, ngày lễ Thánh Giuse hiển vinh, trời trở nên quang đãng, hình quái dị tan và sóng hạ, chúng tôi khám phá ra một cửa biển, người Đàng Ngoài gọi là Cửa Bạng. Chúng tôi muốn gọi là Cửa Thánh Giuse, vì chúng tôi may mắn được vào bến đúng ngày lễ kính Người, và chúng tôi hy vọng Thiên Chúa để Ngài làm vị quan thầy bảo hộ và làm cha nuôi giáo đoàn Đàng Ngoài mới khai sinh này. . .

Trong những ngày này chúng tôi không ra khỏi Cửa Thánh Giuse ... Chúng tôi đi đàm đạo với rất nhiều người ở Xóm Thánh Giuse Chúng tôi ân cần dạy dỗ và chinh phục những thôn xã lân cận, và chúng tôi đã rửa tội được 32 người, là những hoa quả đầu mùa ờ Đàng Ngoài (Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài của Cha Đắc Lộ, bản dịch của Hồng Nhuệ, trích trong tập Thánh Cả Giuse của linh mục Hồng Phúc, trang 90-92).  

2. Đức cha Lambert de La Motte, giám mục tiên khởi Đàng Trong, trong chuyến thăm giáo đoàn Đàng Ngoài, ngài họp Công Đồng Đàng Ngoài tại Phố Hiến, Hưng Yên ngày 14-2-1670, đã long trọng xin Thánh Giuse làm Quan thầy của Giáo Hội Đàng Ngoài. Đức Thánh Cha Clêmentê X châu phê bằng Tông hiến Trách vụ Tông đồ ngày 23-12-1673. 

3. Đức Giáo hoàng Innôcentê XI đã ban hành Tông hiến Thánh vụ Tông đồ đề ngày 17-8-1678, tôn nhận Thánh cả Giuse là quan thầy các giáo phận truyền giáo Trung Hoa (với cả Đàng Trong, Đàng Ngoài, Lào, đại Hàn, Hung Nô).  

4. Hội đồng Giám Mục Việt Nam : Thư ngày 11-10-1997 của HĐGMVN gửi Công đồng Dân Chúa nhân dịp Hội nghị thường niên diễn ra tại Hà Nội ngày 6 - 11-10-1997, đã nhất trí xác nhận tôn vinh Thánh cả Giuse là Quan thầy Giáo Hội Việt Nam.  

5. Nhà thờ Chánh toà Sài Gòn gọi là Nhà thờ Đức Bà, còn Nhà thờ Chính toà Hà Nội gọi là Nhà thờ Thánh Giuse.

Hội Thánh và giáo dân Việt Nam từ trước tới nay vẫn tôn kính cách riêng Thánh cả Giuse.

Hằng năm các giáo xứ, các họ đạo, các gia đình vẫn dành cả tháng Ba để kính riêng Thánh cả. Rất nhiều người, nhiều giáo xứ, nhiều họ đạo đã nhận Thánh cả Giuse làm Quan Thầy.     

Lm Giuse Hoàng Kim Đại   Sưu tập  
 

VỀ MỤC LỤC
MỘT THẾ GIỚI HOẢNG SỢ

 

Trong lời nhắn nhủ đầu năm mới 2008, Đức Benedicto XVI đã kêu gọi mọi người hãy lấy lại HY VỌNG NƠI CHÚA KITO, bởi vì thế giới ngày nay đã suy vi và mất Niềm Tin trong cuộc sống. Ngài gọi đó là “Sự Dữ Mờ Tối”.

 

Dựa vào Thông Điệp Spe Salvi của Đức Thánh cha Biển Đức XVI, chúng ta thử tìm hiểu tại sao con người ngày nay lại không còn Hy Vọng và Tin Tưởng trong cuộc sống? Phải chăng vì người ta đã đánh mất đời sống nội tâm nên quá hoảng sợ vì những truyện viển vông trần tục?

 

THẾ GIỚI CẦN CÓ HY VỌNG

 

Ngày 2-12-2007, trong buổi xuất hiện trước công chúng nhân dịp Chúa Nhật đầu tiên Mùa Vọng, Đức Thánh Cha đã lược qua tông thư Spe Salvi và báo động: ngày nay dựa vào tinh thần khoa học hiện đại người ta đang có khuynh hướng cho rằng Hy Vọng và Niềm Tin thuộc phạm vi cá nhân.

 

Chính quan niệm đó đã lại làm cho con người mất hy vọng. Đức Thánh cha cả quyết: “Khoa học đã giúp cho đời sống con người rất nhiều điều, nhưng nó lại không thể cứu rỗi được nhân loại”.

 

Trong lời mở đầu bài nói truyện với dân thành Roma và thế giới “Urbi et Orbi” trước ngày lễ Giáng sinh, Đức Thánh cha đã gọi lễ Giáng Sinh là “Ngày đại lễ Hy Vọng, ngày Chúa Cứu Thế sinh xuống làm người”. Ngài nói thêm: “Khi con trẻ Giêsu sinh ra thì cũng là lúc mà Hy Vọng thực sự tràn đầy tâm hồn những ai đang chờ đợi Chúa”.

 

Điều đó không phải chỉ có một mình Đức thánh cha cảm nghiệm thấy và cho rằng thế giới ngày nay cần phải lấy lại Hy Vọng. Ngày 1-1-2008, tờ New York Times cũng đã đăng tải một bài nhan đề “Năm 2008, năm báo động 100%”.

 

Nhìn đầu đề bài báo, mọi người đều tưởng rằng tác giả sẽ nói về những điều cần thiết thực sự liên quan đến cuộc sống con người, nhưng lại chỉ thấy nói về những thay đổi thời tiết. Truyền thông báo chí lại chỉ chú trọng đến những báo động lạc quan nhất mà thôi. Cũng theo tác giả của bài báo thì có rất nhiều nhà báo và khoa học gia đặc biệt để ý đến thảm trạng môi trường bị ô nhiễm vì có quá nhiều thán khí. Điều này lại cho thấy là họ đã đi lạc đề quá xa. Tờ New York Times kể rằng đài khí tượng Anh Quốc ghi nhận năm 2007 là năm nóng bức nhất. Ngược lại đài BBC lại cho là năm ấm áp hơn bình thường. Có điều đặc biệt là các tờ  báo Times này đều không để ý đến hay không biết đến cái lạnh buốt ghê gớm chết người ở Nam cực với mức đá tảng cao hơn bình thường, trái ngược với tin tức đã phổ biến là ở Bắc cực mức đá tảng lại thấp hơn.

 

 

SỢ HÃI VÀ SỢ HÃI

 

Sự sợ hãi đó cũng rất phổ biến trong môi trường chính trị. Tuần báo Newsweek số ra ngày 24-12-07 đã dành 4 trang để phân tích “cái sợ” mà các ứng cử viên tổng thống đã nêu ra trong cuộc vận động tranh cử. Bài báo kết luận là “có một ứng cử viên, vì không hiểu rõ những yếu tố làm cho người ta sợ nên cứ thế mà nói không cần biết thực hư ra sao nữa.” Họ nói ra như để hù dọa cho mọi người hoảng sợ thêm.

 

Trong một quyển sách mới xuất bản hồi tháng 11 năm 2007, tác giả Christopher Richard và Booker North đã nói về cái giá chúng ta phải trả cho cái sợ ghê gớm quá sức đó, đến độ người ta đã trở thành dị đoan, cho rằng sợ  đến nỗi làm chết người: “Từ bệnh bò điên (BSE) đến chuyện trái đất bị hâm nóng đã làm cho người ta sợ chết được: Tại sao chỉ vì hoảng sợ mà chúng ta lại có thể làm mất cả trái đất” (Continuum).

 

Cả hai tác giả đều công nhận là có những đe dọa thực sự. Nhưng thường thường vì dựa vào khoa học quá sơ khởi, người ta lại phóng đại nó lên rồi truyền thông báo chí thì thổi phồng những nguy hiểm, các chính trị gia thì đua nhau làm ra luật lệ này nọ tốn kém biết bao nhiêu là tiền bạc. Chẳng hạn năm 1966 khi bệnh bò điên (BSE) bộc phát, truyền thông báo chí tường thuật có cả trăm ngàn con bò chết. Một tờ báo lại đi quá xa đoán chừng cả nửa triệu con chết trong một năm. Nhưng cuối cùng tính sổ lại chính thức thì chỉ có vài trăm con chết mà thôi.

 

Trong phần kết luận của bài phân tích dày cả 500 trang về thực phẩm và những e ngại sợ hãi về môi trường trong những năm vừa qua, đã cho biết cái sợ hãi lo lắng đó một phần là vì cuộc sống con người ngày nay quá trần tục.  Một khi con người không có đời sống nội tâm và niềm tin tôn giáo, thì những giá trị cao quí của xã hội lại phụ thuộc vào  thực trạng vật chất xác thịt. Vì thế thay vì tìm kiếm những giá trị siêu nhiên tốt đẹp để thay thế cho tội lỗi và sự ác thì người ta lại khuyến khích và thích trình bày những ghê sợ nguy hiểm một cách huyền hoặc viển vông.

 

THÁI ĐỘ TIÊU CỰC

 

Có những tác giả khác khi bàn cãi về sự sợ hãi đã cho rằng nỗi hoảng sợ của thế giới ngày nay ngày càng gia tăng như nhà xã hội học Anh Quốc Frank Furedi đã báo động trong cuốn sách của ông vừa tái bản lần III năm 2005 nhan đề “Văn hóa sự sợ / Culture of Fear” (Continuum).

 

Furedi nhận đinh: cái nguy hiểm ở chỗ là chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta đang phải đối đầu với những sức mạnh ghê gớm có thể hủy diệt nhân loại như các hành tinh ở trên không bị bể ra từng mảnh rơi xuống trái đất, các vi trùng giết người rất nguy hiểm không có thuốc chữa và trái đất bị hâm nóng. Do đó đi đến chỗ là bây giờ người ta lại thích ca tụng chúc mừng các nạn nhân hơn là vinh danh những anh hùng; người ta thích khuyến khích nhau chứng tỏ mình là kẻ cần phải được an ủi, giúp đỡ và đền bù thay vì cổ động mọi người đưa ra những sáng kiến xây dựng tích cực để giúp đời.

 

Furedi còn tiếp tục đưa ra những phân tích và nhận định của ông trong một cuốn sách khác mới xuất bản sau này, năm 2005 nhan đề: “ Politics of Fear / Tính cách chính trị của sự sợ”. (Continuum). Ông cho biết: danh xưng Phe Hữu hay Phe Tả hiện không còn  thích hợp trong môi trường chính trị nữa. Thay vào đó là thái độ “Mất Niềm Tin / Đa Nghi, thuyết Tương Đối và Thích Phê Bình Chỉ Trích đã đưa đến một bầu khí chính trị mà Furedi gọi là  “Bảo Thủ Sợ Hãi”.

 

Loại bảo thủ này –ông lý luận- nó không giống như kiểu bảo thủ trước kia người ta tin tưởng vào đặc tính duy nhất và đặc thù của con người là có trí khôn và linh hồn bất tử, bảo thủ hiện thời lại bị ám ảnh bởi “tâm trạng chán đời”.  Sức chịu đựng, nguyên tắc cẩn trọng cần thiết, lối sống lý tưởng tự nhiên và theo thiên nhiên, tất cả đều cho thấy người ta đã thất vọng, chán đời, mất niềm tin, không còn tin tưởng vào ngay cả những ước nguyện và tham vọng của chính mình cũng như những kinh nghiệm thực tế đã có của con người.

 

BÓNG TỐI BAO PHỦ

 

Thêm vào những phân tích về chính trị và xã hội học như ở trên, chúng ta còn cần phải  để ý đến vấn đề thần học mà Đức Thánh cha Biển Đức XVI đã nói trong tông thư Spe Salvi gần đây của ngài. Khởi đầu tông thư Ngài đưa ra nhận xét về một đoạn trong thư thánh Phaolo gửi cho giáo đoàn Epheso nói về Hy Vong. “Các tín hữu Ephesians trước khi tiếp cận với Chúa Kito–Thánh Phao lô viết- họ là những người sống không có Hy Vọng và không có Chúa trong cuộc sống(Ephesians 2: 12). Tông thư của Đức Thánh Cha nói thêm: Các thần thánh của những người ngoại này lúc đó thì rất đáng nghi ngờ và thuộc loại thần thoại vô lý. Do đó, vì không có Chúa Kito, họ đã sống trong “một thế giới tối tăm  với một tương lai đen tối” (No 2)

 

Ngược lại, người tín hữu Kito giáo vì tin tưởng có Chúa ở bên cạnh, biết rằng đời sống của họ sẽ không kết thúc ở hư vô, cho dù họ không biết rõ ràng những chi tiết về cuộc sống đời sau của họ thế nào. Sự tin tưởng đó chắc chắn sẽ thay đổi cuộc sống của chúng ta và, do đó đoạn thư của thánh Phaolo –Đức Thánh cha tiếp tục diễn nghĩa- không những chỉ có tính cách giáo dục mà còn có tác dụng thay đổi lối sống của chúng ta nữa. Ngài nói:

   

-“ Ai có hy vọng thì sẽ sống một cách khác biệt; ai có hy vọng thì sẽ được phúc phần thưởng một đời sống mới”.

 

Đức Thánh cha còn cắt nghĩa:

   

-“  Cuộc khủng khoảng niềm tin trong xã hội ngày nay chính là “cuộc khủng khoảng Hy Vọng Kitô giáo” (No 17). Bức tông thư còn tiếp tục khuyến khích, thúc đẩy chúng ta, nhũng người tín hữu Kito giáo hãy đối thoại với  thế giới tân kỳ ngày nay về quan niệm  Hy Vọng của Kito giáo.

 

Trong phần đối thoại này, người tín hữu Kito giáo lại “phải học hỏi thêm nữa xem sự hy vọng của mình thực sự gồm có những gì, họ phải chia sẻ và không thể chia sẻ được  những gì với thế giới” (No 22). Về phần xã hội đương thời hiện tại, họ cũng cần phải xét lại xem sự tin tưởng của họ vào những tiến bộ khoa học và tiến bộ vật chất mà họ cho là không còn chỗ nào có thể chê được nữa, thực chất nó là thế nào. Đức Thánh Cha đã không phủ nhận những tiến bộ đó, nhưng ngài cho rằng nó vẫn còn mơ hồ.

 

TIẾN BỘ KHOA HỌC

 

Đức Thánh Cha nhận xét: “Không còn nghi ngờ gì nữa, tiến bộ của khoa học đã cho chúng ta những khả thi mới đem lại điều thiện, nhưng đồng thời nó cũng mở ra những khả thi khác tạo nên tội ác, những cái mà trước kia không thấy có”.

 

 Đức Biển Đức tiếp tục nói:

 

-“Tiến bộ cũng cần phải đi đôi với luân lý đạo đức, và nếu nó tạo ra được niềm tin thì nó cũng có thể phân biệt được giữa Thiện và Ác”.

 

Tông thư cũng không phủ nhận tiến bộ khoa học và tiến bộ vật chất. Thực vậy, Đức Thánh Cha công nhận cần phải có “hy vọng vào những tiến bộ khoa học dù nhiều hay ít để giúp chúng ta tiếp tục sống qua ngày”.(No 31). Tuy nhiên, tông thư cho biết những hy vọng này không đủ nếu không có một “Hy Vọng Vĩ Đại và thiết yếu” là Thiên Chúa.

 

KẾT LUẬN:

 

Đức Thánh Cha kết luận:

   

-“Thiên Chúa là nền tảng của Hy Vọng: Không có bất cứ một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa, đấng có diện mạo loài người và là đấng yêu thương chúng ta, mỗi một người chúng ta và toàn thể nhân loại cho đến phút chót và đời đời”.

 

Đức thánh Cha nhận xét xa hơn nữa:

   

-“Một thế giới mà không có Thiên Chúa là một thế giới không có Hy Vọng. Lúc đó chúng ta sẽ chẳng ngạc nhiên gì khi đứng trước một xã hội tân tiến hiện đại nhưng tràn ngập sợ hãi. Cùng với khoa học, nhân loại cần phải lấy lại niềm tin vào Thiên Chúa cho dù chỉ để làm lành những vết thương, hàn gắn lại những đổ nát tinh thần và sửa chữa những căn nguyên đã gây nên sợ hãi cũng được rồi”.

 

Pace Island, Florida 3 Feb. 2008

Nguyễn Tiến Cảnh

 
VỀ MỤC LỤC

KHU VƯỜN Ô-LIU

 I

Tôi đã thấy khu vườn cây xanh biếc!

Vườn ô-liu, đầy hoa trái xum xuê

Kìa đàn chim trong nắng lụa tràn trề

Làn gió thoảng hiu hiu mừng Xuân mới!

 

Tôi cũng nghe những hồi chuông vang dội

Thúc giục tôi nâng thần trí lên cao

Hồn lâng lâng, say đắm để tôi vào

chiêm ngưỡng Chúa đấng toàn năng cao cả!

 

Tôi ngồi đây, vườn ô-liu thanh nhã

Tôi lặng thinh để thần trí bay xa

Con người tôi nhẹ hẫng, bước chân ngà

Đang nếm thử trái ô-liu huyền diệu!

 

Cái ngã tôi đã trở về cực tiểu

Chỉ còn duy... đầy ắp  một linh hồn

Những  gió lành, ân sủng, nước mưa tuôn

Tôi no đủ, hồn tôi đầy sung mãn!

 

Vẫn lặng yên, không dám chi khinh động

Bởi phút này rất trân quí, hiếm hoi

Tôi ngồi đây, như nhắp chén men  say

Say, mê đắm lời Phúc Âm của Chúa!

 

Tôi còn vào vườn Ô-liu, đất Hứa

Nơi  tôi gặp một Đấng mãi thương tôi

Dù đã quen, tôi cảm  thấy bồi hồi

Khu vườn xanh, tôi vẫn ngồi suy tưởng!

 

22-2-2008

Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC
 

VỀ MỤC LỤC
NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ LINH MỤC ĐỒNG TẾ và BỔNG LỄ

 

Trong bài trước , nhân câu hỏi của một độc giả, tôi đã có dịp nói về vấn đề đồng tế (concelebration) của các linh mục. Tôi đã nói rõ là không có giáo lý, giáo luật hay luật phụng vụ nào cấm việc này. Có chăng chỉ có giáo luật cấm linh mục Công giáo “đồng tế với các thừa tác viên của các giáo hội hay giáo đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo” mà thôi ( x. giáo luật số 908).

Trong bài trước, tôi đã nói đến việc giới hạn  hay cấm linh mục đồng tế trong các dịp lễ tang hay lễ cưới ở một số nơi,  nhưng luật cấm này đã không được áp dụng công minh, đồng đều ở địa phương nào đó,  khiến có sự ta thán, bất mãn của cả giáo dân và linh mục.

Hôm nay, xin được nói riêng về tình trạng đồng tế ở nhiều nơi bên ngoài ViệtNam, cụ thể là ở Mỹ này.

I-    Vấn đề linh mục đồng tế ở Mỹ:

Nói chung, ở Mỹ , không có nơi nào cấm hay giới hạn việc đồng tế của linh mục trong các dịp hôn phối, kỷ niệm thành hôn, tang lễ hay lể giỗ cả. Nhưng phải nói là chỉ có trong các cộng đoàn hay giáo xứ ViệtNam ở Mỹ mới có “hiện tượng đồng tế” đông đảo trong các dịp nói trên mà thôi. Ở các giáo xứ Mỹ, Mễ, thì  rất ít có linh mục đồng tế trong những dịp này. Ngay cả khi có một linh mục Mỹ, Mễ qua đời thì may lắm mới có được từ 25-40 linh mục đồng tế trên tổng số 500, 600 linh mục trong giáo phận ! Tôi chưa bao giờ thấy có đến 100 linh mục Mỹ đồng tế trong lể an táng  của một linh mục qua đời cả. Ngược lại, lễ tang hay lễ cưới của giáo dân ViệtNam thì đôi khi có trên 20 linh mục đồng tế là thường, ít ra cũng có 4, hay 5 linh mục đồng tế.

Thông thường thì  ỡ các nơi có đông người Công giáo ViệtNam như California, Houston, Dallas, New Orleans …. các linh mục đến đồng tế vì quen biết ít nhiều hay là thân thích họ hàng với các chủ hôn hay tang gia. Nhưng cũng có  trường hợp linh mục đến đồng tế vì được người khác mời hộ cho đông chứ không hẳn vì quen biết hay có liên hệ gì với gia đính có hôn lễ hoặc tang lễ. Vì thế mà trong giới linh mục ở một vài nơi,  đã có cụm từ “ đi sô” (show) để chỉ tình trạng các linh mục chậy từ nhà thờ này sang nhà thờ kia để đồng tế ít là 2 lễ cuối tuần !, giống như nghệ sĩ “ đi show”  vậy đó !

Đây là thực trạng đáng phàn nàn vì có sự lạm dụng hay dễ dãi không cần thiết về việc đồng tế để chiều thị hiếu của những người  muốn được vinh dự với cộng  doàn, giáo xứ địa phương khi  có lễ cưới hay lễ tang của gia đình họ. Nhưng điều này lại trái với giáo luật số 905, triệt 1, cấm linh mục  cử hành hay đồng tế nhiều lần trong một ngày, khi không có lý do chính đáng được phép làm. Hơn thế nữa, đồng tế quá dễ dãi như vậy  cũng gây phân bì hay không vui  cho những gia đình không quen biết nhiều cha hay mời thêm được nhiều linh mục đến đồng tế khi gia đình họ có việc vui, buồn.

Như vậy, linh mục cũng cần giới hạn việc đồng tế khi thực sự không phải là nhu cầu cần thiết.  Một khía cạnh không được đẹp mắt là người ta thường tặng “phong bì” cho các cha chủ tế và đồng tế ngay sau thánh lễ, trước mặt giáo dân đang rời nhà thờ sau thánh lễ. Theo thiển ý, đáng lẽ phải nói cho giáo dân biết là không nên làm việc này, vì linh mục đến đồng tế là vì thân tình  với các gia chủ có việc vui buồn chứ không phải đến  để nhận “phong bì”. Vả lại, làm như vậy khiến người ta có cảm tưởng là “trả công” đi đồng tế cho các linh mục.

Nhưng điều quan trọng hơn hết cần nói cho mọi người biết một lần nữa là: ơn Chúa ban cho đôi tân hôn hay cho linh hồn người quá cố hoàn toàn không lệ thuộc vào việc có nhiều hay ít linh mục dâng lễ trong những hoàn cảnh này. Càng không liên hệ gì đến số tiền gia chủ chi ra để trả hay tặng  cho các cha chủ tế và đồng tế trong các lễ cưới và lễ tang. Nghĩa là Chúa không căn cứ vào số linh mục hiệp dâng thánh lễ  và số tiền dâng cúng để ban ơn nhiều hay ít cho đôi tân hôn hoặc thưởng hay tha phạt một linh hồn mới ly trần. Chúa ban ơn vì lòng nhân hậu vô biên và công bằng tuyệt đối của Ngài, và vì công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô cộng với thiện chí cộng tác của con người trong cuộc sống ở đời này

Nói khác đi, nếu không có cộng nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thì không ai có thể được cứu rỗi. Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu chuộc này bằng quyết tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Ngài, thì Chúa cũng không thể cứu ai được. Vậy nếu ai ỷ lại vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để không làm gì hết , hoặc tệ hại hơn nữa, là sống ngược lại với Tin Mừng Cứu Độ  và khước từ tình thương của Thiên Chúa cho đến phút chót của đời mình, thì Chúa không thể cứu người đó được; cho dù sau khi chết có được hàng trăm linh mục đồng tế, và đã xin nhiều “lễ đời đời” hay “ mua hậu” với số tiền rất lớn của các nơi buôn thần bán thánh, thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.  Ngược lại, nếu một người đã thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Ngài, thì dù sau khi chết, không được linh mục nào đến đồng tế, và thậm chí xác còn không được mang vào trong nhà thờ như đã xảy ra ở nơi nào đó,  thì cũng không thiệt thòi gì trước mặt Chúa khi Người công minh phán xét.

Vậy đừng ai lầm tưởng rằng hễ có nhiều cha đồng tế,  nhất là được hồng y, giám mục chủ tế  và chi ra nhiều tiền cho nhà thờ thì bảo đảm phần rỗi hơn là không có cha nào dâng lễ và không dâng cúng đồng nào cho ai.

Thật ra, đây chỉ là vinh dự trần thế mà thôi chứ không hề là bảo đảm gì về  lợi ích thiêng liêng trước mặt Chúa cho ai sau khi lìa đời.

Tóm lại, cần sống đẹp lòng Chúa bây giờ thì đó mới là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi mai sau. Xin dâng nhiều lễ , cầu nguyện và làm việc lành chỉ có ích cho những linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa nhưng còn  chưa lành sạch đủ để  vào Nước Trời  hưởng Thánh Nhan Ngài  mà thôi. 

II-     Bổng lễ (mass stipends)

Vấn đề này tôi đã giải thích nhiều lần. Nhưng vì còn có người vẫn thắc mặc nên tôi xin nói lại một lần nữa.

Bổng lễ là số tiền tượng trưng linh mục được hưởng khi dâng một thánh lễ cầu nguyện theo ý người xin. Số tiền này do Tòa giám mục địa phương ấn định. Thí dụ ở Houston là 5 dollars cho mỗi thánh lễ. Như vậy, linh mục không được phép đòi hơn số tiền qui định này để dâng lễ cầu cho ai ( x. giáo luật số  952, triệt 1).

Nhưng nếu người xin lễ tự ý dâng số tiền lớn hơn thì linh mục được phép nhận  mà không có lỗi gì. Mặt khác,  nếu người xin lễ, vì nghèo túng, không có khả năng trả số tiền qui định đó thì linh mục cũng được khuyên nên dâng thánh lễ dù không có bổng lễ. ( giáo luật số 945, triệt 2).

Điều quan trọng cần hiểu là ơn Chúa ban qua thánh lễ không dính dáng gì đến số tiền to, nhỏ của người xin trả cho linh mục.  Ơn thánh của Chúa thì hoàn toàn vô giá (invaluable), nghĩa là không thể mua được bằng tiền bạc hay của cải vật chất. Tiền xin lễ theo qui định của giáo quyền chỉ có giá trị đãi ngộ cho linh mục dâng lễ theo tinh thần “ người lo cho các thánh vụ thì được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ..” như Thánh Phaolô đã dạy ( x. 1 Cor 9:13)

Do đó, sẽ mắc tội mại thánh ( buôn thần bán thánh) (simonia) nếu ai muốn dùng tiền của để mua ơn Chúa, hoặc đòi tiền để ban một bí tích hay gây cho người ta lầm tưởng rằng xin lễ với bổng lễ to thì được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn lễ với bổng lễ nhỏ;  tất cả đều là những hình thức buôn thần bán thánh  bị nghiêm cấm trong Giáo Hội . (giáo luật số 947; 1380)

Sau hết, cũng liên quan đến bỗng lễ , linh mục không được phép gom tất cả ý lễ nhận được để hưởng trọn trong một thánh lễ. Ngược lại, phải dâng đủ lễ cho mỗi ý lễ, nghĩa là người ta xin bao nhiêu lễ thì linh mục phải làm đủ số ý lễ đó, dù bổng lễ là to hay nhỏ ( x. giáo luật số  948).

Mặt khác,  dù dâng nhiều thánh lễ trong một ngày, linh mục  cũng chỉ được hưởng một bỗng lễ mà thôi, ( trừ dịp lễ Giáng Sinh). Các bỗng lễ còn lại phải được chuyển về Tòa giám mục để phân phối cho mục đích khác. (giáo luật số 951).  Nếu có nhiều ý lễ nhận được trong một thánh lễ, thì muốn hưởng hết bổng lễ, linh mục phải làm bù lại vào các ngày khác cho đủ  ý lễ của người xin. Nhưng linh muc không được phép nhận nhiều ý lễ có bổng lễ đến mức không thể làm hết được trong vòng một năm. ( x. giáo luật số 953).

Đó là tất cả những điều cần thiết tôi phải nói lại một lần nữa về vấn đề đồng tế, và bổng lễ theo giáo luật. Ước mong những giải thích này thỏa mãn đưiợc mọi thắc mắc liên hệ.

Lm Phanxicô xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
BẰNG HÀNH ĐỘNG KHÔNG BẰNG LỜI NÓI (2)

 

“Xuân Thi, con kéo quần lên. Con sẽ vấp té ngay bây giờ. Đi lên lầu ngủ đi”. Bà mẹ quay sang khách của bà và nói: “Tôi mua những bộ đồ ngủ bán hạ giá ngày hôm qua. Bộ đồ nầy rộng đối với nó, nhưng biết con trẻ thích cái gì mới. Nó chỉ muốn mặc bây giờ.Tôi muốn nó mặc cho cả sang năm nữa. Nó lớn lên là vừa”. Bây giờ mọi người đang nhìn cô bé đang đứng trên cầu thang mỉm cười cách vui vẻ với mọi người. Cô liếc nhìn xuống chân, đang bị phủ kín bỡi hai ống quần quá dài và rồi lại liếc lên nhìn mọi người mỉm cười hạnh phúc. Bà mẹ lại ra lệnh: “Xuân Thi, con kéo quần lên để vấp té đó. Đi lên lầu đi con”. Cô bé chậm rải xoay chiếc quần và từ từ kéo nó lên, đoạn quay lại nhìn mọi người. Bà mẹ quay lưng về phía nó. Nó đứng lại một lúc lắng nghe người lớn nói chuyện. Bà mẹ quan sát cái nhìn của người khách, quay lại và nói: “Xuân Thi, coi chừng té đó. Kéo quần lên và đi lên lầu! Anh ơi, xuống bế con lên”. Cô bé quay lại và bò nhanh lên lầu, vừa đến đỉnh cầu thang thì ba nó đến. 

Biết bao nhiêu lần chúng ta thấy nguy hiểm vây quanh con cái chúng ta và chúng ta cảnh cáo chúng ý tứ. Nếu chúng lắng nghe chúng ta, chúng sẽ cảm thấy sợ hãi không dám hành động. Bà mẹ nói quá nhiều. Bà dùng ngôn từ, sự sợ sệt để đe dọa. 

Cô bé biết cách điều khiển những ống chân của chiếc quần dài. Cử động của cô bé cho thấy sự nhuần nhuyễn, không