Vấn Đề Tổ Chức Hưu Dưỡng Cho Các Linh Mục Giáo Phận Trong Giáo Hội Việt Nam
Đỗ Hữu Nghiêm
I. Từ Quỹ Lê Bảo Tịnh (Lebaotinh Foundation) đến Hội Tương Trợ Linh Mục Hưu Dưỡng Việt Nam
Từ nhận thức đến hành động
Với ư thức xúc tiến gây quỹ trợ giúp các linh mục hưu dưỡng, tỏ ḷng cám ơn các vị nói chung, “v́ một đời các ngài đă cố sống trung thành và hi sinh phục vụ cho Chúa và Giáo Hội quê Mẹ Việt Nam.” Đây là cử chỉ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tỏ ḷng biết ơn các môn đệ của Chúa. Khi chọn theo Chúa, các linh mục về cơ bản đă cố gắng sống cuộc đời chứng nhân giữa muôn ngàn gian khổ và thử thách về thể chất lẫn tinh thần.
Các Ngài đă phấn đấu trung thành với ơn gọi đi theo Chúa, phục vụ cộng đoàn dân Chúa, đồng hành với dân Chúa, và hiện diện với họ trong mọi biến cố của cuộc sống. Các Ngài đă cố theo gương sống Chúa Kitô, Thầy Chí Thánh, từ bỏ chính ḿnh và gia đ́nh để phục vụ cho đến cùng. Chính Chúa đă nói, “Con chồn có hang, con chim có tổ, con Người không có chổ tựa đầu” (Lc 4: 58.) Thực tế có rất nhiều tông đồ của Chúa đang sống những ngày cuối đời lầm than, cơ cực, nghèo khổ, đói rách.
Tổ chức và hoạt động
Với nhận thức ấy, một số linh mục, cùng với một số giáo dân và linh mục khác, đă có sáng kiến nhiệt t́nh tự động thành lập Hội Lê Bảo Tịnh, qui tụ nhiều người cùng đóng góp xây dựng Quỹ Tương Trợ Các Linh Mục Hưu Dưỡng ở Việt Nam. Trong số những người đó, có thể kể ra các linh mục:
Phạm Ngọc Tuấn, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Thế Phiên, Nguyễn Đăng Đệ, Trần Đức Hùng, Chu Vinh Quang, Nguyễn Kim Long, Nguyễn Văn Khấn, Trần Văn Kiểm, Đinh Viết Thục và Linh Mục Linh Hướng
Sáng kiến này cổ vũ cộng đoàn dân Chúa và tất cả mọi người thiên chí “hằng tâm hằng sản”, hy sinh góp phần tài trợ cụ thể cho các linh mục chủ yếu thuộc các giáo phận Việt Nam. Tổ Chức Lê Bảo Tịnh Foundation được thành lập và hoạt động từ năm 2005. Trong lá thơ tuyên úy ngày 17/7/2005, Hội Lê Bảo Tịnh tŕnh bày, giới thiệu Hội với Các Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám mục Việt Nam hoạt động đă thực hiện.
Trong tháng Năm năm 2005, tại Orange County, California, USA, một số giáo dân đă có sáng kiến và thiết lập một Hội Lê Bảo Tịnh Foundation với mục đích tiếp tay với các vị bản quyền để giúp đỡ các linh mục hưu dưỡng tại tất cả các giáo phận của toàn cơi Việt Nam. Việc làm đó có một số linh mục trực tiếp khuyến khích và nâng đỡ. Sau đó một bữa tiệc gây quỹ tạo phương tiện bảo trợ các cha đă được tổ chức tại nhà hàng Hồng Ân, Westminster, CA vào ngày 4 tháng Sáu 2005. Kết quả khởi đầu thật khiêm tốn những rất nhiều khuyến khích và hứa hẹn trong tương lai.
Hội kính báo đến Vị Bản Quyền của mỗi giáo phận là muốn tỏ ḷng cám ơn các linh mục hưu dưỡng tại giáo phận liên thuộc một cách thiết thực và cụ thể. Nếu được, Hội xin danh sách với tên tuổi cụ thể của các linh mục đang hưu dưỡng trong giáo phận để biếu mỗi linh mục liên hệ một số tiến là $300/ năm phụ giúp vào tiền hưu cho tuổi già. Hội cần tên tuổi như thế để tiện việc lưu trữ hồ sơ và bá cáo minh bạch khi cần. Hội sẽ gửi tiền qua Vị Bản Quyền của mỗi giáo phận.
Cụ thể ban đầu Hội đă nhận được danh sách các cha hưu và đau yếu của các giáo phận sau đây:
Xuân Lộc (36 vị),
Long Xuyên (36 vị),
Tổng Giáo Phận Hà Nội (5 vị),
Hải Pḥng (5 vị),
Phát Diệm (4 vị).
Trong thực tế, tiền trợ giúp các linh mục hưu dưỡng đă được chuyển đến từng Vị Bản Quyền của Giáo Phận liên hệ theo các thông tin nhận được từ các giáo phận . Hội mong nhận được danh sách chính thức cập nhật hóa về các linh mục hưu dưỡng từ các Giáo phận c̣n lại.
Đây là một việc làm trường kỳ, nên cần các giáo phận cập nhật hóa các linh mục về hưu và đau yếu thực sự có thể tăng lên mỗi năm.
Đây là email của Hội, và Hội cần các văn thư chính thức của Giáo Phận nhằm mục đích đă nêu trêni. Địa chỉ điện thư: lmtuyen@dangchuatinhcon.com
Cho tới năm 2007, Hội Lê Bảo Tịnh đă tồ chức được 18 lần gây Quỹ trong ba năm:
2005: 7 danh sách gồm 596 phần đóng góp;
2006: 5 danh sách gồm 237 phần đóng góp;
2007: 6 danh sách gồm 137 phần đóng góp (tạm thời DS 5 và DS 6 không thấy ghi phần đóng góp)
Đă hai lần Hội Lê Bảo Tịnh trao một phẩn tiền qua các vị Chủ Chăn một số Giáo phận và Hội Ḍng, để qua các vị, cộng đoàn dân Chúa có cơ hội tỏ ḷng cảm ơn, tiếp sức, an ủi, xoa dịu phần nào các môn đệ của Chúa đang sống trong các hoàn cảnh nghiệt ngă. Số quà tạ ơn bằng tiền mặt tuy nhỏ nhoi, cùng với tâm t́nh hiệp thông cầu nguyện của cộng đoàn, đă phần nào đem lại những nụ cười thật rạng rỡ, những ủi an đầy t́nh người trong Chúa, v́ các vị c̣n được nhớ đến, không những từ các giáo dân gần gũi, mà c̣n từ các ân nhân xa xôi các vị chưa bao giờ biết mặt, và có lẽ sẽ không bao giờ nh́n thấy để cảm ơn. Những nụ cười và tâm t́nh nguyện cầu cảm ơn trong nước mắt tuôn trào v́ t́nh thương của Chúa bao la và t́nh người cùng như t́nh đồng đạo Kitô, mà “Đôi tay con nhỏ bé, bao nhiêu cũng không vừa!”
Tiếp tục cổ vũ thêm những nghĩa cử yêu thương, tương trợ trong tinh thần hiệp thông huynh đệ của những người Kitô hữu nhận và niềm cảm mến hạnh phúc của những người đồng đạo hay các người có hằng tâm khác góp phần chia sẻ. Người ta vẫn thường nghĩ là “Cho bao giờ cũng cao quí hơn nhận”, Hội Lê Bảo Tịnh đă mời quí Linh mục, Quí Tu Sĩ nam nữ, Quí Ông Bà và Anh Chị Em, Quí thân hữu, đến tham dự Thánh Lễ tạ ơn lần thứ ba tại Nhà Thờ Tam Biên, Chúa Nhật 27 tháng 5, 2007, được cử hành vào 4 giờ chiều
Sau Thánh Lễ, nhiều người đă vui ḷng tham dự Tiệc Họp mặt ĐẠI HỘI KỲ III tổ chức vào lúc 6 giờ chiều cùng ngày, tại Nhà Hàng King Harbor (góc đường Harbor và Garden Grove).
Nhân đó nhiều người hằng tâm và hằng sản góp phần chia sẻ giúp đỡ Qũy Bảo Trợ Các Linh Mục Hưu Dưỡng và bệnh tật của 26 Giáo Phận Việt Nam. Các người hằng tâm hằng sản đă tiếp xúc với Lê Bảo Tịnh Foundation, đóng góp qua một trong các h́nh thức: Check, Tiền Mặt hoặc Money Order theo địa chỉ: 6461 Navajo, CA 92683. Đt: 714-373-6354 / 714-724-0170 / 714-454-4822. Theo tập quán ở nhiều nước phương Tây và ở Mỹ, mọi đóng góp hiện vật hay tài chính được cấp giấy khai thuế tính theo giá trị bằng số tiền hiến tặng.
II. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Chính Thức Vào Cuộc
Có thể việc làm tự động của Hội Lê Bảo Tịnh đă thực tế chuẩn bị và thúc đẩy và cung cấp kinh nghiệm thực tế cho Giáo hội Việt Nam có chương tŕnh chính thức và qui mô hơn
Gần đây, ngày 20/3/2007, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dưới thời Giám Mục Nguyễn Văn Ḥa làm Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, có một lá thư Ủy Nhiệm cho Linh Mục Đinh Ngọc Quế, CSsR, có trách nhiệm chính thức để cổ vũ cho việc gây quỹ trong các cộng đồng Công giáo hải ngoại ở tất cả các nước góp phần trợ giúp xây dựng quỹ Tương Trợ Các Linh Mục Hưu Dưỡng Việt Nam
Những Lá Thư Ân T́nh
1. Thư Ủy Nhiệm
Toàn Văn Nội Dung như sau:
Thư Ủy Nhiệm
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
40 Phố Nhà Chung Hà Nội-Việt Nam
Tel: 84-8-254.424
Fax: 84-4-9.285.073
Hà Nội ngày 20/03/2007
Kính Gửi
Cha Phêrô Đinh Ngọc Quế,
Linh Hướng Ban Điều Hành Hội Tương Trợ Các Linh Mục Việt Nam Priesthood Support Foundation
Orange, California, U.S.A.
Hội Đồng Giám Mục có nhu cầu chăm lo cho các linh mục hưu dưỡng trong 26 giáo phận Việt Nam. Do đó chúng tôi ủy nhiệm Hội Tương Trợ Linh Mục Việt Nam giúp thực hiện chương tŕnh này.
Xin gửi đến Cha Linh Hướng và Ban Điều Hành Quư Hội lời cảm ơn chân thành trong t́nh hiệp thông chia sẻ của chúng tôi
Phạm Minh Măn Phaolô Nguyễn Văn Ḥa
Hồng Y Tổng Giám Mục Chủ Tịch HĐGMVN
Phó Chủ Tịch HĐGMVN (Đóng dấu và kư tên)
(Đóng dấu và kư tên) P. Ḥa
GB Mẫn
2. Lá Thư Ngỏ
Từ sự ủy nhiệm chính thức này, Linh mục Linh Hướng, CsSR, Hội tương trợ Linh Mục Việt Nam, viết một Thư Ngỏ có nội dung như sau:
Thư Ngỏ
Orange County, ngày 13 tháng 10 năm 2007
V/v. Đáp lời lo cho các linh mục hưu dưỡng tại 26 giáo phận toàn nước Việt Nam
Kính thưa Quư Đức Cha, Quư Cha, Quư Thầy Sáu, Quư Tu Sĩ Nam Nữ, và toàn thể dân Chúa ở Hai Ngoại
Ngày 20 tháng 03 ngày 2007, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, qua Đức Cha Chủ Tịch Nguyễn Văn Ḥa và Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă gửi văn thư ủy nhiệm cho con và Ban Điều Hành Hội Tương Trợ Linh Mục Việt Nam để giúp thực hiện chương tŕnh la cho các cha hưu dưỡng tại 26 giáo phận toàn nước Việt Nam: hiện tại chừng 300 linh mục và 14 giám mục. Con số sẽ c̣n tăng nữa…
Thời buổi thay đổi, các giáo phận trên toàn quốc từ lâu không c̣n tài sản cơ sở cho mục đích trên nữa
Các linh mục hưu dưỡng đă dành cả một đời để yêu thung, phục vụ và chăm lo cho đời sống thiêng liêng của chúng ta, nay đến tuổi già đủ thứ bện tật, không c̣n khả năng để chăm lo bản thân, phải ngồi xe lăn, nằm liệt giường, đang bị quên lăng ở một nơi nào đó trên quê hương Việt Nam chúng ta. Xin chân thành chia sẻ nhưng ưu tư trăn trở của Hội Đồng Giám Mục Của Chúng con
Tin cậy vào ḷng bác ái, đức biết ơn truyền thống của người Việt Nam, chúng con xin tha thiết kêu mờitoàn thể dân Chúa ở khắp nơi, các quí vị hảo tâm xa gần vui ḷng hiệp lực để thực hiện công việc cao đẹp và ư nghĩa này.
Đây là sự đền đáp một phần nào cho các cha già về hưu. Nhưng cũng là sự khuyến khích lớn lao cho các linh mục tại chức được an tâm phục vụ, và cho giới trẻ muốn dấn thân trong đời tận hiến được vững ḷng tin cậy hơn!
Xin Chúa chúc lành và trả công bội hậu cho những hy sinh đóng góp quảng đại của quí vị. Tất cả những đóng góp chúng tôi sẽ lần lượt gửi về cho HĐGMVN theo đúng mục đích đă qui định.”
Cụ thể việc xây dựng Quỹ được trù liệu với các mức đóng góp là 50, 100, 200, 300, 500, 1000 và hơn nữa theo h́nh thức đóng trước, đóng hằng tháng, hay đóng hằng năm.
Những người đóng góp có thể đồng thời được ghi danh là hội viên Ân Nhân vĩnh viễn (từ 1000 trở lên), Hội Viên Ân Nhân Bậc I (từ 120) và Hội Viên Ân Nhân Bậc II (60) và thành phần xin lễ Như Ư Xin thường lệ.
III. Tinh Thần Giáo Luật Ấn Định
Theo Bộ Giáo Luật Mới 1983, không có điều khoản nào nói rơ khi nào đến tuổi về hưu của các linh mục và qui định cụ thể về các điều kiện về hưu và quyền lợi cùng tập quán sinh hoạt cho các linh mục lúc hồi hưu. Nhưng đây là những điều khoản (điều 281 và 282) chỉ nhắc đến việc chuẩn vị bảo hiểm sức khỏe và xă hội cho các linh mục về hưu:
[Điều 281: (1) Các giáo sĩ hiến thân phục vụ Giáo Hội đáng được hưởng thù lao tương xứng với điều kiện của họ, xét theo bản chất công việc mà họ đảm nhận cũng như các hoàn cảnh tùy nơi tùy thời; sao cho họ có thể đáp ứng các nhu cầu riêng tư và trả công xứng đáng cho những người mà họ cần sự giúp đỡ.
(2) Cần phải liệu sao để các giáo sĩ được hưởng bảo hiểm xă hội, nhờ đó có thể dự pḥng tương xứng những nhu cầu khi đau yếu, tàn tật hoặc tuổi già.
(3) Các Phó Tế đă lập gia đ́nh, nếu đă dành toàn thời giờ để phục vụ Giáo Hội, th́ đáng được hưởng thù lao thế nào để họ có thể chu cấp cho chính bản thân và cho gia đ́nh họ. Những ai lănh lương do một nghề nghiệp dân sự hiện đang làm hay trước đây đă làm th́ hăy lo liệu chu cấp mọi nhu cầu của bản thân và của gia đ́nh do lợi tức từ tiền lương.
Điều 282: (1) Các giáo sĩ nên sống đời giản dị, và xa tránh tất cả những ǵ có vẻ phù hoa.
(2) Những tài sản mà họ có được trong khi thi hành một chức vụ Giáo Hội, th́ sau khi đă dự trù cho việc chu cấp xứng đáng và thi hành những nghĩa vụ khác của bậc ḿnh, nên được dành phần dư vào thiện ích của Giáo Hội và những công cuộc bác ái.
Điều 283: (1) Các giáo sĩ, cho dù không có một nhiệm vụ gắn liền với trú sở, không được rời khỏi giáo phận trong một thời gian đáng kể, theo luật địa phương đă xác định, nếu không có phép, ít ra là suy đoán, của Bản Quyền riêng.
(2) Các giáo sĩ, mỗi năm, được hưởng một thời gian phải chăng và đủ dành cho việc nghỉ ngơi, theo như luật chung hoặc luật địa phương đă ấn định.]
(Bộ Giáo Luật. The Code of Canon Law. Bản dịch việt ngữ của Đức Ông Nguyễn Văn Phương, Linh Mục Phan Tấn Thành, Linh Mục Vũ Văn Thiện, Linh Mục Mai Đức Vinh. Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia. Quyển II: Dân Chúa. Phần I: Các Tín Hữu. Thiên 3: Các Thừa Tác Viên Có Chức Thánh Hay Là Các Giáo Sĩ)
IV. Thói quen thực tế
1. Các tổ chức ḍng tu, tu hội, tu đoàn
Trong nghiên cứu này, người viết không chính thức đề cập đến việc hưu dưỡng linh mục của các ḍng tu. Nếu có tŕnh bày đến việc hưu dưỡng của các linh mục tu sĩ của các tổ chức ḍng tu, là các vị đó có liên hệ đến giáo phận cách nào đó. Theo sự t́m hiểu của người viết, thường lệ mỗi tổ chức tu tŕ (ḍng tu, tu hội, tu đoàn…) đều có những tổ chức hưu dưỡng riêng cho các linh mục tu sĩ của ḿnh. Qui mô lớn nhỏ, có nhà hưu riêng hay khu vực hưu dưỡng riêng là tùy số lượng, cách thức và điều kiện thích hợp thực tế của mỗi tổ chức ḍng tu.
2. Các Giáo Phận
A. T́nh H́nh Hưu Dưỡng Linh Mục Trước 30/4/1975
Từ lâu như một truyền thống trong Giáo Hội Việt Nam, việc hưu dưỡng các linh mục cao niên vẫn được thực hiện âm thầm tại các giáo phận trong giáo hội Việt Nam, nhưng dường như Giáo Hội chưa hoàn toàn nhận thức để nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm chỉnh và triệt để, ngơ hầu tạo điều kiện quan tâm và chăm lo đặc biệt,
Có thể v́ số lượng các linh mục cao niên không nhiều lắm.
Hơn nữa quan niệm tu đức khổ hạnh cổ điển vẫn cho rằng cuộc đời tận hiến tu hành xả kỷ đến trọn đời kể cả những ngày bệnh nạn yếu liệt cuối đời.
Và nhất là trong Giáo Hội c̣n nhiều ưu tiên hơn để suy nghi, ứng phó và thi hành trong mỗi hoàn cảnh thời cuộc.
Việc hưu dưỡng diễn ra dường như hoàn toàn theo điều kiện thực tế riêng lẻ trong mỗi Giáo phận và nhận thức của Đấng Bản Quyền Giáo Phận, bản thân và gia đ́nh của các linh mục cao niên.
Các linh mục hưu dưỡng v́ cao niên hay bệnh tật thường ở vào một trong các trường hợp sau đây:
(1) Nhà Hưu Giáo Phận.
1/. Một ám ảnh đáng sợ?
Một số trường hợp người về hưu trong giáo phận này đến hưởng các điều kiện lưu trú và chăm sóc chung trong một nhà hưu dưỡng thuộc giáo phận.
Trong các trung tâm lưu trú nuôi dưỡng của Giáo Hội, như các nhà hưu dưỡng các linh mục cao niên về hưu, có nhiều sư kiện thực tế tại một số nơi, về nhiều lănh vực sinh hoạt như ăn uống, điều kiện lưu trú, vệ sinh và chế độ chăm sóc và các qui định sinh hoạt của nhà hưu có thể c̣n thiếu một bàu khí bác ái, chịu đựng tế nhị khéo léo nhân bản nào đó.
V́ thế có lẽ khiến nhiều linh mục có ư tưởng khá tiêu cực về chế độ “nghỉ hưu” và ngại ngùng về hưu ở nhà hưu dưỡng chung của giáo phận. Ngoài ra, một số ít linh mục nẩy sinh ra ư tưởng co cúm “dành dụm thủ riêng” tiền bạc và phương tiện riêng đề pḥng cho tương lai của chính ḿnh khi đến tuổi về hưu.
Chuyện đó cũng b́nh thường, nhưng có thể biểu hiện tính ích kỷ và gây gương xấu trong cộng đồng dân Chúa khi thực hiện ư đồ này.
Cần lắng nghe giải thích và t́m cách giải quyết thỏa đáng mỗi trường hợp theo những động lực và lư do tế nhị riêng biệt. Nhất là giúp mang lại b́nh an tâm hồn với nhiệt thành của người phục vụ.
Nhiều Giáo phận có nhà hưu dưỡng linh mục tại Giáo phận, ngay trong khu vực Ṭa Giám mục hoặc một nơi riêng biệt, cho các linh mục lớn tuổi hoặc bệnh hoạn không c̣n làm việc được nữa sống những ngày cuối đời, chuẩn bị chờ đợi Chúa gọi về.
2/. Qui định nhà hưu chung chưa hợp t́nh hợp lư?
Phần đông nhà hưu dưỡng giáo phận yêu cầu các linh mục hưu phải đóng góp bằng cách dâng lễ, nhưng chế độ chăm sóc chưa rơ ràng và chu đáo, tiêu chuẩn cấp dưỡng thiếu thốn và quá chặt chẽ.
Các cha già và bệnh tật thường phải theo chế độ ăn kiêng, hoặc do thời tiết và bệnh hoạn không ăn được những thứ dọn ra, nhưng người phục vụ không có điều kiện để thay thế, khiến các ngài phải chịu thiếu thốn, đói khát, tủi thân, đâm ra tiếc nuối, hụt hẫng…, nhất là các vị lúc đương làm việc có những điều kiện sống cao và thoải mái hơn: cực trước sướng sau th́ sướng hơn, nhưng sướng trước cực sau th́ cái cực càng nặng nề! Đây cũng là một lư do khiến các cha già ngại hưu ở nhà hưu chung.
Tại một số giáo phận, khi một linh mục hưu dưỡng qua đời, giáo phận sẽ chu cấp quan tài lo việc chôn cất, c̣n các chi phí an táng th́ gia đ́nh phải trang trải. Do đó, nếu không c̣n gia đ́nh hoặc gia đ́nh quá nghèo, linh mục về già phải dè sẻn dành dụm trước cho khoản này, không dám cả ăn uống thuốc men khi c̣n thấy chịu đựng được. Ngược lại, có một ít linh mục để dành và di chúc lại cả tiền xe cộ và ăn uống cho các bổn đạo cũ đi đưa đám ḿnh!
Ngoài ra, v́ điều kiện tuổi tác và sức khỏe không tự lo được cho ḿnh, nhiều vị cần được chăm sóc đặc biệt như d́u dắt, nâng đỡ, lau chùi, đấm bóp và vệ sinh thân thể), mà các nhân viên nhà hưu dưỡng không thể và không sẵn ḷng đảm đang nổi. Các vị phải nhờ bà con cháu chắt, dù có hay không có điều kiện kinh tế và thời gian dồi dào, vẫn phải cố gắng thu xếp đến ở bên cạnh để chăm sóc. Các vị không có bà con cháu chắt th́ nếu có chút tiền, phải bỏ tiền ra thuê người đến ở phục vụ. Nhưng các vị nào nghèo khó chẳng có ǵ để bồi dưỡng hay thuê người giúp, chỉ trông vào “người đi qua kẻ đi lại” th́ thật đáng thương. Nhân viên phục vụ ít, lại nhiều công việc, nên chỉ có thể dành phục vụ các vị hưu dưỡng lần lượt theo tiêu chuẩn chung.
Trong hoàn cảnh này, nhiều vị rất tội nghiệp v́ toàn thân và pḥng ở của các vị xông mùi hôi thối khai khắm nồng nặc. Có vị phải nằm lâu một bên ḿnh nên những chỗ nằm lâu bị lỡ loét đau đớn lắm. Đó cũng là một lư do góp phần khiến các cha ngại về nhà hưu chung. Và đă có vị chết một ḿnh trong pḥng mà chẳng ai hay biết, và cũng chẳng ai có chúc thư hay không và để ở đâu. V́ thế khôn ngoan nhất là Giáo Hội yêu cầu mỗi linh mục khi c̣n tỉnh táo khi gia nhập nhà hưu, nên viết sẵn trước và để một bản chúc thư ở Ṭa Giám Mục.
Nhưng trường hợp những vị có con cháu hay thuê người tới ở lại chăm sóc lại nảy sinh vấn đề khác: thường nhà hưu chỉ dành cho mỗi cha hưu một pḥng khép kín với các công tŕnh phụ cần thiết. Nay người giúp cũng ở và làm mọi sự trong đó, suốt ngày đêm; và nếu đó lại là người nữ th́ rất bất tiện, khó coi và có khi nguy hiểm nữa. Các linh mục đi tu, tận hiến đời ḿnh cho Chúa, cho Giáo Hội và các linh hồn, nhưng các ngài vẫn không thôi là con người. Nhiều người trêu nhau: “trâu già mà sừng không già” hay "già chưa đều".
3/. Thiếu ḷng tin thác vào Chúa khi tuổi già hay v́ thiếu chăm lo của Giáo Phận?
V́ những hoàn cảnh éo le của nhà hưu, một số linh mục cao niên hay bệnh hoạn thiếu tinh thần tự chủ, từ bỏ và phó thác như thân phận Chúa Giêsu “con chim có tổ, con chồn có hang, Con Người không nơi tựa đầu”. Những vị ấy chuẩn bị cho ḿnh đôi chút phương tiện nên pḥng xa thủ lại một số tiền hay xây dựng nhà cửa để hưu sau này. Từ đó sinh ra keo kiệt và quá đ̣i hỏi giáo dân trong vấn đề lễ lạy, bí tích và phân biệt đối xử, trọng giàu khinh nghèo! Chủ chăn mà làm khó dễ quá cho giáo dân trong vấn đề lănh nhận các bí tích sẽ gây nên một hậu quả ngược lại rất tai hại, là đẩy họ ra khỏi Giáo Hội mà theo Tin Lành, hoặc các Giáo phái đang t́m mọi cách lôi kéo tín đồ.
Những người làm như thế phải nghĩ đến phán đoán ngay thẳng của lương tâm thức tỉnh của ḿnh trước mặt Chúa. Có những vị “dại” xây nhà tại nơi ḿnh phục vụ, gây nhiều phiền phức cho người kế nhiệm và giáo dân, và cuối cùng cũng chẳng được ở! Những vị “khôn hơn” đầu tư xây nhà cửa cho ông bà thân sinh và dành những căn pḥng tiện nghi cho ḿnh hưu sau này.
Qua những bất tiện đó, Giáo phận phải có các biện pháp ứng phó: Không cho hưu tại giáo xứ đă làm việc; ai hưu tại nhà hưu dưỡng giáo phận, giáo phận đài thọ phần lớn và cha hưu chỉ dâng một số ư lễ; c̣n ai hưu tại nhà riêng th́ phải tự túc hoàn toàn. Một giáo phận kia xin Ṭa Thánh và vận động giáo dân trong và ngoài nước lập nên một quỹ hưu khá lớn giao cho một Ủy ban đặc trách làm lợi thêm. Từ đầu năm nay, giáo phận ấy đă đài thọ trọn gói cho các cha hưu tại nhà hưu của giáo phận, và đài thọ hai triệu đồng cho các cha hưu tại trụ sở của giáo phận gốc, c̣n tất cả các cha đang làm mục vụ được giúp khám sức khỏe tổng quát hằng năm, và ai bị bệnh được giúp tới mức tối đa ba mươi triệu.
4/. Mối quan tâm của từng giáo phận và tương trợ giữa các giáo phận?
Dưới quyển lănh đạo thống nhất của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tất cả các giáo phận cần đặc biệt quan tâm, học hỏi lẫn nhau, tham khảo kinh nghiệm ở nước ngoài, như các nursing home và giúp nhau tổ chức những nhà hưu dưỡng thật hẳn hoi, để chăm lo tốt cho các linh mục sau thời gian phục vụ đầy công lao vất vả, không những phần vật chất, mà nhất là phần tinh thần. Các cha hưu sống thành cộng đồng huynh đệ trong vui tươi, an b́nh, hạnh phúc, tin yêu, tín thác cho Chúa và Giáo Hội, nêu gương cho đàn em, và cũng là hậu phương cầu nguyện cho đàn em trên cánh đồng truyền giáo và dưỡng giáo.
C̣n các linh mục đang làm mục vụ cũng được an tâm về tương lai tuổi già của ḿnh, chẳng cần suy tính pḥng xa tích trử ǵ cả, một mực hết ḷng cống hiến cho đoàn chiên, và có thể góp phần với giáo phận trong việc xây dựng, trang bị và bảo tŕ nhà hưu dưỡng chung. Được vậy th́ siêu nhiên và tốt đẹp biết bao! Giám mục Bản Quyền đang đặc biệt quan tâm đầu tư xây dựng nhà hưu cho các linh mục như tại Xuân Hóa, và các linh mục cũng sẵn ḷng đóng góp vào đo bằng tiền lễ binae của ḿnh.
5/. Kiến trúc và cảnh quan nhà hưu
Theo kế hoạch và đồ h́nh tổng quát, đây là khu hưu dưỡng cho linh mục lư tưởng nhất được biết ở Việt Nam, xét về môi trường cảnh quan chung quanh và kiến trúc cơ sở: Cái đáng chù ư nhất là nhà các linh mục hưu tập trung quanh Nhà Nguyện như tâm của một ṿng tṛn, thuận tiện cho các linh mục hưu có thể lặng lẽ tới với Chúa Giêsu Thánh Thể bất cứ lúc nào cả ngày lẫn đêm mà không sợ gây phiền phức cho các anh em bên cạnh. Ước mong cho mọi sự được tốt đẹp như ḷng mong muốn.
Nhưng đối với các nhà hưu dưỡng chung cho các cha như thế, ngoài các tiện nghi trù liệu chất lượng phục vụ mới là quan trọng. V́ thế huấn luyện nhân viên phục vụ được thích hợp với tấm ḷng, kiến thức và những dụng cụ cần thiết để đáp ứng kịp thời cho các vị đau yếu khi cần. Có như thế, các cha sắp về hưu được an tâm và vui vẻ đi hưu, nêu gương sáng cho thế hệ đàn em. Trong trường hợp không đủ nhân viên phục vụ, mà có những vị thực sự cần thiết được phục vụ đặc biệt riêng, xin thiết kế thế nào để kế cận pḥng cha hưu có một pḥng nhỏ với những công tŕnh phụ tối thiểu cho người giúp ở và sinh hoạt, chứ không ở chung và dùng chung pḥng với cha hưu.
6/. Tâm t́nh siêu nhiên hướng thượng.
Trong tất cả những trạng huống tế nhị này, người ta không thể quên hướng về Mẹ Maria dưới chân thập giá. trong viễn tượng mầu nhiệm Cánh chung và Nhập Thể, Đức Maria đă ưng thuận hiến dâng Con Mẹ. Trong suốt cuộc sống, Mẹ vẫn tiếp tục hiến dâng: Trao phó trẻ Giêsu trong tay Simêon ngày Dâng Chúa vào Đền Thánh; lúc Giêsu từ giă gia đ́nh, bắt đầu sứ vụ công khai; trên hết và cuối cùng, Mẹ đă hiến dâng Ngài trên thập giá v́ phần rỗi nhân loại. Trong khoảnh khắc “consummatum est”, Chúa Kitô đă trao thác chính ḿnh cho Chúa Cha và trao Mẹ Ngài cho Giáo Hội chăm sóc, qua chính người môn đệ yêu dấu.
7. Một cử chỉ ân huệ, bác ái.
Sau cùng, cũng trong màu nhiệm hiến dâng nhập thể, và chỉ trong hoàn cảnh này, một số người đề nghị Giáo Hội quan tâm đặc biệt đến những song thân của một số linh mục trong các viện dưỡng lăo của Giáo Hội. Để ngăn ngừa lạm dụng, chỉ xét trường hợp bất khà kháng khi gặp hoàn cảnh già cả neo đơn, không ai chăm sóc.
Các linh mục ấy có thể gửi gắm cha mẹ hầu được yên tâm phục vụ các linh hồn, trở nên linh mục nhiệt thành hơn, hoàn toàn sống v́ đoàn chiên. Nếu được vậy th́ tốt đẹp biết bao, v́ bao nhiêu năm trước cha mẹ họ đă trao họ cho Giáo Hội, và bây giờ họ lại được đặt cha mẹ ḿnh trong ṿng tay chăm sóc của Giáo Hội. Trong lănh vực này, Giáo Hội cũng nên lưu tâm đến hoàn cảnh, t́nh cảm và những trăn trở không thể tránh được của các linh mục là con một hay con trai duy nhất trong gia đ́nh. Cầu mong cho họ “một lần đă quảng đại th́ được quảng đại cho đến cùng”.
(2) Nhà Hưu Ḍng Tu. Một số linh mục về hưu đến cư trú và được chăm sóc trong các nhà hưu của các ḍng tu, tu hội khác, nhất là những ḍng tu có truyển thống hay ơn gọi phục vụ bệnh nhân hay các linh mục đặc biệt như ḍng Naza hay Đồng Công hay Ḍng Gioan Thiên Chúa, Ḍng Nữ Tỳ Các Linh Mục, …
(3) Nhà Hưu Giáo Xứ. Một số linh mục cao niên cư ngụ và được chăm sóc trong giáo xứ do một người con linh mục linh tông thuê người chăm sóc, không phải nhà hưu do chính linh mục chuẩn bị tại giáo xứ ḿnh phục vụ như đă nói trên.
Nói chung việc hưu dưỡng là một việc có tính cách riêng tư mà chưa có một chính sách nhất quán rộng khắp đúng mức do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nghiên cứu suy xét và t́m cách giải quyết chung cho từng giáo phận và cho các linh mục giáo phận khi đến tuổi pháp định phải về hưu hay do t́nh h́nh sức khỏe cá nhân của mỗi vị.
(4)Nhà Hưu Gia Đ́nh. Một số linh mục về hưu và được chăm sóc của thân nhân trong gia đ́nh.
Nhưng cũng có những Giáo phận chưa có nhà hưu dưỡng dành riêng cho linh mục và để các linh mục tự lo liệu lấy. Có những Giáo phận có nhà hưu dưỡng, nhưng để các linh mục được tự do hưu ở nhà hưu của giáo phận hay ở giáo phận hay bất cử nơi nào khác có thể tiếp nhận họ, hoặc ở nhà thân sinh và bà con thân quyến.
(5) Nơi Hưu Tự Chọn
Cuối cùng, c̣n có h́nh thức hưu dưỡng tự do nhất là nơi hưu dưỡng tự chọn mà mỗi vị giám mục hay linh mục có sự sắp xếp hay ngẫu nhiên nào đó sống tại những nơi hưu dưỡng riêng biệt nằm ngoài mọi trù liệu kể trên do một thân nhân hay một tổ chức chăm sóc.
B. T́nh Trạng Nhà Hưu Dưỡng Sau 30/4/1975
Hiện nay, từ sau 30/4/1975, một cách tổng quát nhiều nhà hưu của giáo phận Việt Nam bị nhà nước tịch thu theo chủ trương quốc hữu hóa những bộ phận có thể thực hiện được tùy mỗi địa phương. Tuy nhiên một số giáo phận địa phương và di cư vào miền Nam đă thiết lập những nhà hưu riêng và thường vẫn c̣n ở Sàig̣n
Một thí dụ cụ thể:
Các nhà hưu tại Tổng Giáo Phận Sàig̣n
|
Nhà Hưu Dưỡng Các Linh Mục, Thầy Giảng |
||||
|
1 |
Nhà Hưu Linh Mục Hà Nội |
116B Hùng Vương, F9, HCM5 |
8.570.400 Lm TV Nghị 8.560.799 |
CG |
|
2 |
Nhà Hưu Dưỡng Thầy Giảng Hà Nội |
75 Nơ Trang Long, F13, BT, HCM |
|
GĐ |
|
3 |
Trụ Sở và Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục Bắc Ninh |
45/3 Ấp 8, TT Thủ Đức |
8.961.339 |
TĐ |
|
4 |
Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục Bùi Chu |
69 CMT8, F12, TB, HCM |
|
TSN |
|
5 |
Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục Phát Diệm |
212 Đường 26.3 F15, GV, HCM (Lm Phạm Trung Thu 8.940.985) |
8.950.038 |
XM |
|
6 |
Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục Địa Phận Thái B́nh |
56 Nguyễn Văn Lạc, F19, BT, HCM |
8.990.719 |
GĐ |
|
7 |
Nhà Hưu Dưỡng Sư Huynh La San Mai Thôn |
970 XVNT F28, BT, HCM |
8.991.226 |
GĐ |
|
8 |
Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục TGP Sàig̣n ở Chí Ḥa |
245/45 CMT8, F7, Tân B́nh HCM |
8.640.349 |
CH |
Ở Giáo Tỉnh Hà Nội, nói chung trong các giáo phận miền Bắc, việc hưu dưỡng, các linh mục có khi đă già yếu về hưu nhưng lại được mời ra hay miễn cưỡng phải làm việc tiếp, như trường hợp linh mục Phạm Hân Quynh thuộc Giáo phận Hải Pḥng.
Thực tế có nhiều giáo phận ở miền Bắc Việt Nam không c̣n nhà hưu. Do t́nh h́nh khó khăn như thế, nên việc hưu dưỡng là hoàn toàn được giải quyết ứng biến theo hoàn cảnh thực tế.
Có những vị đă đến tuối về hưu vẫn làm việc v́ thiếu linh mục phục vụ. Yếu quá, th́ cộng đồng dân Chúa c̣n khiêng ra nhà thờ để các cha già ra làm lễ tại nhà thờ hay tại nơi nào xứng đáng.
Ở Giáo Tỉnh Huế, các linh mục về hưu có xu hướng về hưu ngay trong Ṭa Giám Mục của Tổng Giáo Phận Huế. Nói như thế không có nghĩa là có những trường hợp khác, tùy theo hoàn cảnh của mỗi vị
Giáo Phận Vinh có danh sách tất cả 154 linh mục, trong đó có 01-25 linh mục sinh từ năm 1938-1927, có 026-154 linh mục sinh từ 1937 đến 1964. Như vậy có 22 linh mục trong tuổi về hưu từ 70 tuổi đến 79 tuổi
Ở Giáo Tỉnh Sàig̣n, các linh mục về hưu có thế có nhiều lựa chọn hơn: hưu trong Nhà Hưu Giáo Phận Sàig̣n, hay Nhà Hưu của từng giáo phận gốc di cư cũ hay trong giáo hạt hay giáo xứ, ḍng tu
Ở Giáo Phận Long Xuyên, Giám mục Bùi Tuần theo định kỳ vẫn công bố những bài viêt tham gia vào công cuộc truyền giáo xây dựng cộng đồng dân Chúa.
Giám mục Trần Xuân Tiếu ở Giáo phận ấy chủ trương xây dựng nhà hưu tập thể cho mỗi giáo hạt mà không hẳn phải tập trung nhà hưu chung vào một nơi cụ thể nào.
Người về hưu trọng tuổi nhất trong giáo hội Việt Nam là Giám mục Nguyễn Văn Thiện, nay đă hơn 100 tuổi hiện cư ngụ tại Pháp
Nhiều giáo phận có Ṭa Giám mục cũng là một nơi làm việc đa năng: làm trụ sở hoạt động, nhưng cũng dành chỗ làm nơi hưu dưỡng các giám mục thành viên của giáo phận
V. Một Dữ Liệu Thống Kê Tổng Hợp
1. Dữ liệu thống kê độ tuổi các linh mục hưu dưỡng Việt Nam theo tài liệu Niên Giám 2005
1. Biểu Một
|
Giáo Tỉnh Hà Nội |
||||||
|
Giáo Phận |
Tổng Số linh mục |
70 tuổi trở lên |
70 tuổi trở xuống |
|||
|
Tr |
Do |
Triều |
Ḍng |
Triều |
Ḍng |
|
|
1.Hà Nội |
057 |
0 |
05 |
1 |
052 |
1 |
|
2.Lạng Sơn |
004 |
0 |
00 |
0 |
004 |
0 |
|
3.Hải Pḥng |
040 |
0 |
07 |
0 |
033 |
0 |
|
4.Bắc Ninh |
023 |
0 |
01 |
0 |
022 |
0 |
|
5.Hưng Hóa |
030 |
0 |
00 |
0 |
030 |
0 |
|
6.Bùi Chu |
081 |
0 |
02 |
0 |
079 |
0 |
|
7.Thái B́nh |
044 |
0 |
01 |
0 |
043 |
0 |
|
8.Phát Diệm |
041 |
0 |
04 |
0 |
037 |
0 |
|
9.Thanh Hóa |
043 |
0 |
01 |
0 |
042 |
0 |
|
10.Vinh |
139 |
0 |
37 |
0 |
102 |
0 |
|
TC :10 |
864 |
0 |
58 |
1 |
444 |
1 |
2. Biểu Hai
|
Giáo Tỉnh Huế |
||||||
|
Giáo Phận |
Tổng Số linh mục |
70 tuổi trở lên |
70 tuổi trở xuống |
|||
|
T |
D |
Triều |
Ḍng |
Triều |
Ḍng |
|
|
11.Huế |
099 |
13 |
24 |
03 |
075 |
10 |
|
12.Đà Nẵng |
071 |
00 |
10 |
00 |
061 |
00 |
|
13.Quy Nhơn |
067 |
00 |
15 |
00 |
052 |
00 |
|
14.Kontum |
036 |
06 |
12 |
02 |
024 |
04 |
|
15.Nha Trang |
123 |
22 |
22 |
07 |
101 |
15 |
|
16.BMê Thuột |
079 |
00 |
10 |
01 |
068 |
02 |
|
TC: 6 |
475 |
41 |
93 |
13 |
381 |
31 |
3. Biểu Ba
|
Giáo Tỉnh Sàig̣n |
||||||
|
Giáo Phận |
Tổng Số linh mục |
70 tuổi trở lên |
70 tuổi trở xuống |
|||
|
T |
D |
Triều |
Ḍng |
Triều |
Ḍng |
|
|
17.Sàig̣n |
288 |
205 |
20 |
58 |
268 |
147 |
|
18.Vĩnh Long |
153 |
011 |
09 |
02 |
144 |
009 |
|
19.Cần Thơ |
170 |
000 |
24 |
00 |
146 |
000 |
|
20.Mỹ Tho |
099 |
000 |
10 |
00 |
089 |
000 |
|
21.Đà Lạt |
090 |
074 |
11 |
08 |
079 |
066 |
|
22.LongXuyên |
212 |
000 |
39 |
00 |
173 |
000 |
|
23.Phú Cường |
114 |
000 |
17 |
00 |
097 |
000 |
|
24.Xuân Lộc |
232 |
043 |
57 |
14 |
175 |
029 |
|
25.Phan Thiết |
075 |
005 |
16 |
03 |
059 |
002 |
|
26.Bà Rịa |
060 |
028 |
06 |
04 |
054 |
024 |
|
TC: 10 |
1943 |
366 |
209 |
89 |
1284 |
268 |
4. Biểu đồ Toàn Thể Ba Giáo Tỉnh
|
Giáo Tỉnh |
Tổng Số linh mục |
Linh mục |
||||
|
70 tuổi trở lên |
70 tuổi trở xuống |
|||||
|
Triểu |
Ḍng |
Triều |
Ḍng |
Triều |
Ḍng |
|
|
Hànội: 10 GP |
864 |
0 |
58 |
1 |
444 |
1 |
|
Huế: 6 GP |
475 |
41 |
93 |
13 |
381 |
31 |
|
Sàig̣n: 10 GP |
1943 |
366 |
209 |
89 |
1284 |
268 |
|
Toàn Giáo Hội |
3282 |
407 |
360 |
103 |
2109 |
300 |
2. Một cái nh́n qua những con số thống kê
Dữ liệu thống kê này cho thấy một cách tổng quát từng giáo phận, từng giáo tỉnh và toàn thể giáo hội Việt Nam. Nhưng theo t́nh h́nh niên biểu thực tế, dữ liệu này thay đổi do nhiều yếu tố, như tử suất, bệnh tật và những thuyên chuyển nhiệm sở và chức vụ và thế hệ tân chức được huấn luyện và thụ phong, theo thời gian từ 2003, tức là thời điểm nội dung của Niên Giám 2005 mới nhất của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam được thành lập cho đến lúc nghiên cứu này được thực hiện. Việc cập nhật hóa kiến thức thực tế chính xác là điều bắt buộc khi vận dụng các dữ liệu này.
Theo Niên Giám 2005, Giáo Hội Việt Nam có 3282 Linh mục triều, 407 linh mục ḍng, trong số đó, các vị trên 70 tuổi mà chúng tôi dự kiến là tuổi được xem là có thể về hưu một cách b́nh thường trong Giáo Hội để trẻ hóa việc quản lư trong các giáo xứ là 360 linh mục triều và 103 linh mục ḍng.
Những vị đang ở độ tuổi thực sự làm việc có hiệu quả là 2109 linh mục triều và 300 linh mục ḍng.
Qua những con số này và thống kê cụ thể ở dưới, mỗi giáo phận có thể chuẩn bị các điều kiện thực tế cho các vị về hưu và thế hệ thay thế kế tiếp đến năm 2010. Các con số các vị ở sát dưới tuổi 70, tức là các vị sinh trong thời gian 1939, 1940 là các vị sẽ đến 70 tuổi trong dịp Giáo Hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam vào năm 2010 (1960-2010)
VI. Danh Sách Các Linh Mục Đến Độ Tuổi Hưu Dưỡng tại Việt Nam
A. Giáo Tỉnh Hà Nội
1. Danh Sách Các Linh Mục TGP Hà Nội đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (56 - 3) + (2 - 1)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
33. Giuse Nguyễn Ngọc Oánh, lm 9/5/1952 |
10/4/1922 |
Hà Thao, Há Tây 034-854-774 |
|
2 |
42. Gioan Bùi Trọng Tăng, lm 26/10/1980 |
22/6/1923 |
Sơn Lăng, 034-882-506 |
|
2 |
35. Gioan Nguyễn Văn Phủ, lm 8/9/2001 |
7/1/1937 |
Bích Tŕ Hà Nam, 0350-860-679 |
|
|
|||
|
1 |
Phaolô Lê Đắc Trọng, GM PT, lm 1/4/1948 |
15/6/1918 |
Toà Giám Mục Hà Nội |
|
2 |
Phaolô Phạm Đ́nh Tụng, HYTGM, lm 6/6/1949 |
20/5/1919 |
TGMHN |
|
Linh mục Ḍng Chúa Cứu Thế |
|||
|
|
00. Linh mục Cựu Bể Trên DCCT |
Chưa rơ 88 tuổi |
Thái Hà Ấp |
Chú thích: Trong danh sách 57 linh mục thực tế ghi lại, có 56 linh mục triều và 1 linh mục DCCT (LM Trịnh Ngọc Hiên). Trong số 56 linh mục triều có 5 vị ở độ tuổi về hưu, c̣n 50 vị ở dưới tuổi 70. Nhưng tài liệu Niên Giám 2005 trang 530 lại cho biết có 2 linh mục DCCT, th́ có 1 linh mục trong danh sách trên, c̣n 1 linh mục DCCT khác, cựu Bề Trên DCCT, đă 88 tuổi th́ không nêu tên. Như thế thực sự, Tổng Giáo phận có 3 giáo hạt (Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam) với 134 giáo xứ mà có 58 linh mục dưới quyền quản lư của 1 GM trè c̣n làm việc; 2 Giám Mục đă về hưu.
2. Danh Sách Các Linh Mục Gp Lạng Sơn đến tuổi về hưu theo Niên giám 2005: (04-00= 00)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
00 |
00 |
00 |
00 |
Chú Thích: Trong 1 Giám Mục, 4 linh mục, chưa vị nào đến tuổi về hưu, Gp có 18 giáo xứ phục hoạt trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
3. Danh Sách Các Linh Mục GP Hải Pḥng đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (40 – 2 = 38)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
25. Laurensô Phạm Hân Quynh, lm 5/4/1952 |
30/8/1926 |
Hải Pḥng, 031-663-344 |
|
2 |
27. Antôn Khổng Minh Số, lm 3/12/1982 |
12/10/1938 |
HP, 0193-042-861 |
|
Dưới sát 70 tuổi hay bệnh |
|||
|
3 |
1. Gioakim Nguyễn Đức Báu, lm 1/1/1988 |
1/10/1940 |
Đồng Giá HP, 031-873—649 gioakducbau@hotmail.com |
|
4 |
17. Giuse Nguyễn Văn Luân, lm 9/6/1994 |
15/8/1940 |
Khúc Giản HP 031-772-840 |
|
5 |
4. Giuse Nguyễn Xuân Đài, lm 10/6/1994 |
10/6/1940 |
Mỹ Động Hải Dương 0913-023-355 |
|
6 |
14. Phêrô Đoàn Văn Kiểm, lm 7/10/1970 |
116/6/1942 |
Ngọc Kỳ HP? |
|
7 |
23. Giuse Nguyễn Thanh Phong, 7/10/2001 |
20/4/1964
|
TGMHP? HP |
Chú Thích: Toàn Gp có 40 linh mục, chưa kể 1 Giám Mục chia ra 3 giáo hạt (Thành Phố Hải Pḥng, Quảng Ninh-Quảng Yên, Hài Dương-Hưng Yên) gồm 64 giáo xứ. Có 2 linh mục ở trong lứa tuổi hưu nhưng vẫn làm việc và có 5 linh mục sát tuổi 70 hay bị bệnh. Tỉ lệ 0%8
4. Danh sách Linh mục GP Bắc Ninh đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (23-1 =22)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
|
23. Giuse Trần Quang Vinh, lm 16/9/1974 |
25/12/1938 |
Văn Cương, Phú Thọ 0211-866-802 |
|
Dưới sát 70 tuổi |
|||
|
|
21. Chu Quang Ṭng, lm 16/9/1974 |
28/1/1940 |
Thọ Ninh, Lương Tài, BN, 024-640-248 |
Chú thích : Toàn Gp gồm 1 Giám Mục vào thời gian đó, 23 linh mục, trong 8 giáo hạt (Bắc Ninh, Gia Lương, Vĩnh Phúc, Bắc Thái, Bắc Giang, Đại Lăm, Văn Cương, Tuyên Quang) có 49 giáo xứ. Trong 23 lm chỉ có 1 linh mục đến tuổi 70, và 1 vị ở sát tuổi 70. Tỉ lệ 0%23
5. Danh sách linh mục Gp Hưng Hóa đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (30-3=27)
|
TT |
Ho Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
Dưới sát 70 tuổi |
|||
|
|
17. Antôn Nguyễn Gia Nhang, lm 1973 |
13/4/1939 |
Dư Ba, Phú Thọ 0210-887-038 |
|
|
27. Luca Nguyễn Thế Truyền, lm 1995 |
5/10/1939 |
Đồng xa Phú Thọ 0210-885-218 |
|
|
6. Giuse Nguyễn Văn Đông, lm 1973 |
24/11/1939 |
Rơ Lục, Phú Thọ |
Chú Thích: Toàn Gp có 1 Giám Mục, 30 linh mục trong 6 giáo hạt (Sơn Tây- Ḥa B́nh-Sơn La, Tuyên Quang, Lào Cai-Lai Châu-Điện Biên, Yên Bái, Tây Nam Phú Thọ, Tây Bắc Phú Thọ, Đông Nam Phú Thọ) gồm 87 giáo xứ với 30 linh mục. Trong số đó chỉ có ba vị linh mục ở sát tuổi 70
6. Danh Sách linh mục Gp Bùi Chu đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (81- 4 = 77 triều)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
10. Phêrô Phạm Văn Cử, lm 1960 |
1913 |
Tương Nam, Nam Trực, Nam Định, 829-672 |
|
2 |
73. Giuse Trần Quang Tuyến, lm 1985 |
1933 |
B́nh Hải, Nghia Hưng, Nam Định 872-247 |
|
3 |
41. Phaolô Trần Đức Nhuận, lm 1963 |
1936 |
Lạc Đạo, Nghĩa Hưng Nam Định, 872-176 pauldnhuan@yahoo.com |
|
4 |
72. Đaminh Trần Ngọc Tuất, lm 1963 |
1938 |
Ninh sa, Hải Hậu, Nam Định 875-462 |
|
Dưới sát 70 tuổi |
|||
|
1 |
40. Vinhsơn Nguyễn Tốt Nghiệp, lm 1976 |
1939 |
Kiên Lao, Xuân Trường, Nam Định, 762-064 |
|
2 |
48. Đaminh Trần Đức Tâm, lm 1963 |
1939 |
Xuân Thủy Hải Hậu, Nam Định 874-500 xuanthuyxu@yahoo.ca |
|
3 |
62. Micae Trần Minh Tiến, lm 1976 |
1939 |
Cát Xuyên, Xuân Trường, Nam Định 888-295 |
|
4 |
69. Phêrô Trịnh Đ́nh Trang, lm 1963 |
1939 |
Đông Liêu, Nghĩa Hưng, Nam Định 719-051 |
|
5 |
52. Giuse Phạm Xuân Thi, lm 1979 |
1940 |
Báo Đáp, Nam Trực, 827-150, pxtbd@yahoo.com |
|
6 |
44. Tôma Phạm Chính Phương, lm 1963 |
1940 |
Sa Châu, Giao Thủy, 895-131 |
|
7 |
43. Aug. Trần Ngọc Phan, lm 1988 |
1940 |
Phú Thọ, Giao Thủy, 740-514 |
|
8 |
36. Giuse Phạm Thành Lâm, lm 1963 |
1940 |
An Nghĩa, Hải Hậu, 870-930 |
|
9 |
34. Đaminh Hoàng Văn Kiểu, lm 1963 |
1940 |
Ngưỡng Nhân, Giao Thủy, 894-933 |
|
10 |
23. Vinhsơn Nguyễn Đức Hiệp, lm 1963 |
1940 |
Thịnh Long, Hải Hậu, 876-849 |
|
11 |
16. Đaminh Phan Văn Điển, lm 1976 |
1940 |
Quần Vinh, Nghĩa Hưng, 873-239 |
|
12 |
1. Giuse Đinh Xuân An, lm 1979 |
1940 |
Vạn Lộc, Xuân Trường, 888-883, 0913-093-340 |
Chú Thích: Toàn Gp có 129 giáo xứ thuộc 11 hạt (Báo Đáp, Bùi Chu, Đại Đồng, Kiên Chính, Lạc Đạo, Liễu Đề, Ninh Cường, Phú Nhai, Quần Phương, Quỹ Nhất, Thức Hóa, Tương Nam, Tứ Trùng) được quản lư bởi 81 linh mục trong đó có 4 linh mục ở độ tuổi về hưu, 12 vị ở dưới sát tuổi 70.. Tỉ lệ là 3 %24
7. Danh sách các linh mục Gp Thái B́nh đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005 (44- 1= 43 triều)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
|
3. Giuse Bùi Văn Cẩm, lm 1960 |
1931 |
Sa Cát, Thái B́nh, 036 732-210 |
|
Dưới sát 70 tuổi |
|||
|
|
43. Vinh sơn Phạm Văn Tuyên, lm 1970 |
1940 |
Hưng Yên, TX HY, 0321 862-663 |
|
Chưa rơ |
|||
|
1 |
11. Luca Nguyễn Văn Định |
? |
Nt Chính Ṭa, 2 Trần Hưng Đạo, TB, 036-830-870 |
|
2 |
15. Đaminh Bùi Ngọc Hải |
? |
Vong Phan, Phù Cư, Hưng Yên |
|
3 |
18. Phêrô Đinh Văn Hùng |
? |
Gia Lạc, Vũ Thư, TB, 036-722-368 |
|
4 |
19.Aug. Nguyễn Quang Huy |
? |
Bắc Trạch, Tiền Hải, 036-824-251 |
|
5 |
23. Vinhsơn Vũ Văn Hướng |
? |
Lương Điền, Tiền Hải, 036-824-788, 0912-187-611 |
|
6 |
24. Giuse Nguyễn Văn Kha |
? |
Lực Điền, Yên Mỹ, Hưng Yên, 0321-975-204, 0913-066-109 |
|
7 |
24. Đaminh Nguyễn Trung Lương |
? |
Bồ Ngọc, Quỳnh Phụ, TB, 036-921-347 |
|
8 |
25. Đaminh Nguyễn Văn Quát |
? |
Nam Lỗ, Đông Hưng, TB, 036-550-653, 0912-180-039 |
|
9 |
33. Đaminh Đào Trung Thành |
? |
Duyên Lănh, Hưng Hà, TB, 036-860-486 |
|
10 |
34. Đaminh Nguyễn Văn Thao |
? |
TGM và Nt Quỳnh Lang, Quỳnh Phụ |
|
11 |
38. Giuse Phạm Văn Thiện |
? |
Vạn Đồn, Thái Thụy, 036-713-063 |
|
12 |
40. PX Ngô Văn Toan |
? |
Cát Đàm, Đông Ḥa, CV Mỹ Đức), 036-740-600, 0912-021-884 |
|
13 |
44. Aug. Phạm Quang Tường |
? |
Thanh Minh, Tiền Hải, 036-883-233 |
Chú Thích: Toàn Gp có 1 Giám Mục đă quá tuổi 70, 40 linh mục coi sóc 5 hạt (Tiền Hải, Kiến Xương, Đông Hưng, Thái Thụy và Hưng Yên), chia ra 64 giáo xứ. Trong đó chỉ lập được 1 linh mục ở trong tuổi hưu và 1 vị ở sát tuổi 70, như có tới 13 linh mục chưa có đủ chi tiết để thiết lập một danh sách các linh mục ở trong tuổi về hưu. Tỉ lệ?
8. Danh Sách linh mục Gp Phát Diệm đến tuổi hưu dưỡng theo Niên Giám 2005 (41- 7= 34)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
35. Phaolô Nguyễn Chu Tŕnh, lm 13/3/1937 |
1907 |
Hưu tại TGM 862-058 |
|
2 |
31. Giuse M Phạm Đức Tấn, lm 13/5/1982 |
1917 |
Hưu tại TGM 862-058 |
|
3 |
30. Luca Trần Hùng Sỹ, 1m 12/6/1953 |
1922 |
Hưu tại TGM 862-058 |
|
4 |
40. Phêrô Trần Cao Vọng, lm 7/6/1952 |
1924 |
Hưu tại TGM, 862-058 |
|
5 |
38. Giuse Trần Ngọc Văn, 9/5/1982 |
1936 |
Hóa Lộc Kim Sơn Ninh B́nh 863-425 |
|
6 |
12. Ignace Bùi Ngọc Hoàng, lm 9/5/1982 |
1938 |
Hướng đạo Kim Sơn, Ninh B́nh 721-710 |
|
7 |
14. Giuse Vũ Công Hoàng, lm 3/5/1982 |
1938 |
Văn Hải, Kim Sơn, Ninh B́nh 863-734 |
|
Dưới 70 tuổi |
|||
|
1 |
4. Giuse Vũ Quang Điện, lm 28/5/1981 |
1939 |
B́nh Sa Kim Sơn Ninh B́nh |
|
2 |
41. Phêrô Trần Văn Vũ, lm 9/5/1982 |
1940 |
Hoàng Mai Hoa Lư, Ninh B́nh 610-037 |
Chú Thích: Toàn Gp có 1 giám mục coi sóc 65 giáo xứ chia làm 8 giáo hạt (Phát Diệm, Văn Hải, Tôn Đạo, Cách Tâm, Phúc Nhạc, Ninh B́nh, Bạch Bát, Đồng Chua và Vô Hốt), với sự hợp tác của 41 linh mục. Trong đó có 7 vị ở trong tuổi về hưu, và 2 vị ở sát tuổi 70. Tỉ lệ là 2%87
9. Danh Sách Các Linh Mục GP Thanh Hóa đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005 (43-3= 40)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
32. Phaolô Đinh Trí Thức, lm 1962 |
1929 |
Đông Quang Thanh Hóa 836-526 |
|
2 |
43.Raphael Đỗ Đ́nh Vượng, lm 1992 |
1936 |
Kẻ Rừa Thanh Hóa 760-120 |
|
3 |
28. Phêrô Vũ Tiến Phúc, lm 1994 |
1937 |
Nt Chính Ṭa, Thanh Hóa, 232A Trường Thi Thanh Hóa 855-536 |
|
Dưới 70 tuổi |
|||
|
1 |
10. Anphongsô Phạm Văn Hộ, lm 1984 |
1940 |
Nga Phú Nga Sơn Thanh Hóa |
Chú Thích: Toàn Gp có 46 giáo xứ chia ra 6 hạt (Thanh Hóa, Ba Làng, Nga Sơn, Sông Mă, Sông Chu, Mỹ Điện), do 1 Giám Mục coi sóc với 43 linh mục cộng tác. Trong số đó, có 3 linh mục ở trong tuồi về hưu, và 1 vị ở sát tuổi 70. Tỉ lệ 1%29
10. Danh sách các linh mục Gp Vinh đến độ tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (139- 37= 132)
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
43. Phêrô Vũ Văn Giáo, lm 1944 |
1913 |
Hưu ở Nghi Lộc |
|
2 |
29. Antôn Bùi Đức Duyệt, lm 1942 |
1914 |
Hưu ở Tân Yên |
|
3 |
8. Phêrô Nguyễn Công B́nh, lm 1967 |
1919 |
Hội Yên |
|
4 |
82.Giuse Ngô Xuân Luyện, lm 1952 |
1919 |
Hưu ở Thọ Ninh |
|
5 |
112. Giuse Phan Văn Tần, lm 1961 |
1920 |
Cam Lâm |
|
6 |
6. Phêrô Hoàng Bảo, lm 1959 |
1923 |
Trung Hậu |
|
7 |
127. Phêrô Đậu Đ́nh Triều, 1960 |
1923 |
Văn Hạnh |
|
8 |
126. Giuse Nguyễn Tràng, lm 1960 |
1924 |
Mỹ Dụ |
|
9 |
39. Phêrô Nguyễn Văn Đức, lm 1960 |
1925 |
Vinh Ḥa |
|
10 |
83.Phêrô Lê Duy Lượng, lm 1963 |
1928 |
Đại Chủng Viện |
|
11 |
24. Tôma Nguyễn Văn Cường, lm 1961 |
1930 |
Tiếp Vơ |
|
12 |
45.GB Cao Xuân Hành, lm 1965 |
1930 |
Tam Đa |
|
13 |
48. Giuse Nguyễn Xuân Hóa, lm 1992 |
1930 |
Vạn Thanh |
|
14 |
92.GB Lê Văn Ninh, lm 1963 |
1930 |
Troóc |
|
15 |
115. Giuse Nguyễn Hồng Thanh, lm 1961 |
1930 |
Xuân Mỹ |
|
16 |
114. Phêrô Phan Văn Thái, lm 1962 |
1930 |
Kỳ Anh |
|
17 |
25. Phêrô Nguyễn Viết Cường, lm 1990 |
1931 |
Sơn La |
|
18 |
18. Giuse Nguyễn Đức Châu, lm 1962 |
1932 |
Đại Chủng Viện |
|
19 |
59.Phêrô Bùi Văn Huyên, lm 1965 |
1932 |
Gia Ḥa |
|
20 |
86. Giuse Nguyễn Quang Nam, lm 1966 |
1932 |
Đức Lân |
|
21 |
96. Phêrô Lê Hữu Phước, lm 1965 |
1932 |
Vạn Phần |
|
22 |
133. Giuse Phạm Huy Tường, lm 1966 |
1932 |
La Nham |
|
23 |
10. Giuse Cao Đ́nh Cai, lm 1965 |
1933 |
Đồng Tháp |
|
24 |
51. GB Nguyễn Huy Hoàng, lm 1963 |
1933 |
Phú Xuân |
|
25 |
91.Phêrô Nguyễn Sĩ Nho, lm 1966 |
1933 |
Trang Cảnh |
|
26 |
33. Giuse Nguyễn Đặng Điền, lm 1966 |
1934 |
Nhân Ḥa |
|
27 |
44. Antôn Đậu Quang Hải, lm 1990 |
1934 |
Tràng Lưu |
|
28 |
72. Phêrô Đậu Xuân Khánh, lm 1966 |
1934 |
Ngô Xá |
|
29 |
121.Giacobê Nguyễn Trọng Thể, lm 1992 |
1934 |
Đan Sa |
|
30 |
32. GB Trần Thánh Đạt, lm 193 |
1935 |
Vĩnh Hội |
|
31 |
63.Giuse Trần Thanh Hương, lm 1966 |
1935 |
Thượng B́nh |
|
32 |
79. Giuse Nguyễn Tiến Lợi, lm 1968 |
1935 |
Bùi Ngọa |
|
33 |
124. Giuse Phan Duy Thông, lm 1960 |
1936 |
Nghĩa Yên |
|
34 |
37. PX Nguyễn Văn Đoàn, lm 1967 |
1937 |
Tân Mỹ |
|
35 |
72. Phêrô Nguyễn Duy Khang, , lm 1994 |
1937 |
Tân Lộc |
|
36 |
13.Phêrô Nguyễn Đăng Cao, lm 1967 |
1938 |
Làng Nam |
|
37 |
15. Giuse Nguyễn Văn Chất, lm 1967 |
1938 |
Mô Vĩnh |
|
Dưới 70 tuổi |
|||
|
1 |
58. Phêrô Phan Văn Huê, lm 1999 |
1940 |
Xuân Phong |
Chú Thích : Toàn Gp có 145 giáo xứ chia ra trong 16 giáo hạt (Thuận Nghĩa, Đông Tháp, Bảo Nham, Bột Đá, Vạn Lộc, Nhân Ḥa, Xă Đoài, Cửa Ḷ, Nghĩa Yên, Ngàn Sâu, Văn Hạnh, Cẩm Lũy, Kỳ Anh, Huớng Phương, Minh Cầm, Ḥa Ninh, Đồng Troóc) được 2 Giám mục quản lư với sự giúp đỡ của 139 linh mục. Trong số đó có tới 37 linh mục ở trong tuổi về hưu, 1 vị ở sát tuổi 70. Đây là giáo phận kiên cường nhất trong mọi diễn biến của thời cuộc. Tỉ lệ 51%93
Thánh lễ truyền chức cho 26 tân Linh mục tại GP Vinh
VietCatholic News (Chúa Nhật 29/06/2008 12:44)

“Lạy Chúa, xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của Chúa”. Lời cầu nguyện
của thánh Phanxicô Assisi được Ban tổ chức dùng làm câu khẩu hiệu của buổi lễ
như đă khơi thúc thêm ḷng sốt sắng, hăng say cho 26 Phó tế và cộng đoàn trong
Thánh lễ truyền chức linh mục hôm nay - 29/06/2008. http://www.dongten.net/
II. Giáo Tỉnh Huế
11. Danh Sách Linh mục TGP Huế đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005 [112 = 99 +13]. (99-24) + (13-3) = 75 + 10 = 85
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
I. Các linh mục triều |
|||
|
1 |
66. Hier. Nguyễn Đức Phú, lm 1968 |
1912 |
Ḍng Thánh Tâm, 054 825-048 |
|
2 |
45. Phêrô Hoàng Kính, lm 1941 |
1913 |
Mỹ Chánh, 053-876-439 |
|
3 |
95. Phaolô Nguyễn Thanh Tiếp, lm 1950 |
1919 |
Hưu Nhà Chung, 054-824-937 |
|
5 |
93. Phaolô Nguyễn Văn Tiên, lm 1951 |
1925 |
Hưu Nhà Chung, 054-824-937 |
|
6 |
112. G Hoan Nguyễn Hữu Vinh, lm 1970 |
1925 |
054-825-048 |
|
7 |
9. Micae Hy Nguyễn Văn Châu, lm 1994 |
1928 |
Bề Trên Ḍng Thánh Tâm |
|
9 |
104. Bart. Nguyễn Phùng Tuệ, lm 1953 |
1928 |
Hưu tại Nhà Chung, 054-824-937 |
|
10 |
28. Antôn Trần Minh Hiển, lm 1961 |
1929 |
GĐ ĐCV Huế, 054-528-230 |
|
11 |
4. PX Lê Văn Cao, lm 1962 |
1930 |
Sao Cát, 054-873-697 |
|
12 |
21. Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang, lm 1959 |
1933 |
Diên Sanh, 053-873-256 |
|
13 |
27. Phaolô Nguyễn Văn Hiển, lm 1964 |
1933 |
Tây Linh, 054-530-179 |
|
14 |
34. Gioakim Lê Thanh Hoàng, lm 1968 |
1934 |
Dương Sơn, 054-557-680 |
|
15 |
16. GB Nguyễn Văn Đán, lm 1964 |
1935 |
ĐCV Huế, 054-529-511 |
|
16 |
36. Giuse Nguyễn Văn Hội, lm 1967 |
1936 |
Tiên Nộn, 054-850-600 |
|
17 |
50.Giuse Trần Văn Lộc, lm 1962 |
1936 |
dưỡng bệnh tại miền Nam |
|
18 |
3. Luy Nguyễn Văn Bính, lm 1963 |
1937 |
ĐCV Huế, 054-529-512 |
|
19 |
30. Đaminh Trần Thái Hiệp, lm 1963 |
1937 |
ĐCV Huế, 054 810-586 |
|
20 |
43. Phêrô Lê Đ́nh Khôi, lm 1969 |
1937 |
dưỡng bệnh tại miền Nam |
|
22 |
59. PX Nguyễn Văn Nam, lm 1969 |
1937 |
Nam Phổ, 054-860-511 |
|
23 |
1. Bart. Nguyễn Quang Anh, lm 1964 |
1938 |
ĐCV Huế, 054-529-514 |
|
24 |
5. PX Nguyễn Tiến Cát, lm 1964 |
1938 |
ĐV Huế, 054-530-065 |
|
II. Các Linh mục Ḍng |
|||
|
4/1 |
11. Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp, CSsR, lm 1964 |
1924 |
054-828-690 |
|
8/2 |
69. Giuse Lê Viết Phục, CSsR, lm 1955 |
1928 |
054 828-690 |
|
21/3 |
54. Phêrô Nguyễn Lân Mẫn, PSS, lm 1964 |
1937 |
ĐCV Huế, 054 529-513 |
|
Dưới 70 tuổi |
|||
|
1 |
76. Augustin Hồ Văn Quư, lm 1963 |
1939 |
An Đôn |
|
2 |
106. Giuse Trần Văn Tuyên, lm 1969 |
1939 |
Đông Hà, 053-855-130 |
|
3 |
40. Micae Trần Minh Huy, lm 1972 |
1940 |
GS ĐCV Huế, 054—539-056 |
|
4 |
81.Stêphanô Huỳnh Quang Sanh, OSB, lm 1972 |
1940 |
Đv Thiên An, 054-826-635 |
Chú Thích: Toàn Gp có 67 giáo xứ trong 5 giáo hạt (Thành Phố, Hưng Phú, Hương Quảng Phong, Hải Vân, Quảng Trị) do 1 Giám mục coi sóc với sự hợp tác của 112 linh mục, kể cả 13 linh mục ḍng, Trong số 21 linh mục đến tuổi về hưu, có 3 linh mục ḍng. Trong 4 linh mục ở sát tuổi về hưu, có 1 linh mục ḍng. Tỉ lệ các vị ở độ tuổi về hưu chiếm 1%12
12. Danh Sách linh mục Gp Đà Nẵng đến tuổi về hưu theo Niên Giám 2005: (71-13) = 58
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
20. Phêrô Nguyễn Châu Hải, lm 1946 |
1919 |
Hưu TGM |
|
|
18. GB Lê Quí Đức, lm 1955 |
1922 |
Chủng Viên Xuân Bích |
|
2 |
44. Aloysiô Huỳnh Nhẫn, lm 1953 |
1923 |
Hư, Ṭa GM |
|
3 |
48. Anrê Tôn Thất Phái, lm 1959 |
1923 |
Hưu, TGM |
|
4 |
56. Phaolô Nguyễn Văn Thái, 1960 |
1925 |
Hưu tại TGM |
|
5 |
35. Simon Đinh Hưng Lợi, 1954 |
1926 |
Hưu TGM |
|
6 |
69.Antôn Trần Văn Trường, lm 1959 |
1929 |
Chính Ṭa 156 Trần Phú, 0511-873-445 |
|
7 |
4.Giuse Ngô Đ́nh Chính, lm 1972 |
1931 |
Ḥa Cường, Đà Nẵng, |
|
8 |
2.PX Nguyễn Tiến Cát, lm 1966 |
1934 |
DCV Huế 24 Kim Long, 054 530 065 |
|
9 |
GB Nguyễn Văn Đán, lm 1964 |
1935 |
DCV 24 Kim Long, 054-529-511 |
|
10 |
35. Bênêdictô Nguyễn Tấn Khóa, lm 1964 |
1935 |
Tam Kỳ, Quảng Nam, 0510-851-775 |
|
11 |
39. GB. Nguyễn Duy Lượng, lm 1966 |
1937 |
Tuyên Úy nhà hưu dưỡng đường Dóng Phaolô |
|
12 |
41. Phêrô Phạm Lân Mẫn, lm 1964, lm 1964 |
1937 |
DCV 30 Kim Long, 054-529-513 |
|
13 |
31. Phêrô Vũ Văn Khóa, lm 1966 |
1938 |
Vĩnh Điện, Quảng Nam, 0510-867-370 |
|
14 |
PX Nguyễn Quang Sách, GM, lm 1956 |
1925 |
TGM Đa Nẵng |
|
15 |
P. Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh, GM, lm 1960 |
1930 |
TGM Đà Nẵng |
Chú Thích: Toàn Gp có 4 giáo hạt (Đà Nẵng, Ḥa Vang, Hội An, Tam Kỳ) gốm 39 giáo xứ do 1 giám mục coi sóc với sự cộng tác của 71 linh mục.Trong gp có 2 giám mục về hưu, 13 linh mục ở trong tuổi về hưu, chiếm tỉ lệ 9%23.
13. Danh sách Các Linh Mục Gp Qui Nhơn đến độ tuổi về hưu theo Niên Giám 2005 (67-15) = 52
|
TT |
Họ Tên |
Năm Sinh |
Địa Chỉ |
|
1 |
5. Phêrô Huỳnh Kim Lăng 1955 |
1919 |
Hưu |
|
2 |
2. Phaolô Nguyễn Thanh B́nh, lm 1953 |
1920 |
Hưu |
|
3 |
1. Phêrô Tuần Nguyễn Cao Hiên, lm 1951 |
1922 |
Hưu |
|
4 |
3. Phaolô Trương Đắc Cần, lm 1953 |
1923 |
Gx Sông Cầu Phú Yên |
|
5 |
6. Gioakim D0oàn Kim Hiền, 1955 |
1924 |
Nt Ghềng Ráng B́nh Định
|
|
6 |
30. Đaminh Phan Châu Đại, lm 1992 |
1927 |
HT 27 An Nhơn B́nh Định 056 835 490 |
|
7 |
4. Phêrô Nguyễn Quang Bửu, lm 1959 |
1928 |
CV Làng Sông, P. Thuận, Tuy Phước B́nh Định 056 633 273 )nhắn) |
|
8 |
7. GB Đỗ Trung Thanh, lm 1960 |
1928 |
Nt Phú Ḥa Quảng Ngăi lvy@dng.vnn.vn |
|
9 |
8. Phanxicô Xaviê Trần Ḥa, lm 1962 |
1932 |
Nt Hoa Châu Phú Yên |
|
10 |
9. Phaolô Nguyễn Thọ, lm 1962 |
1933 |
Nt Châu Ổ Quảng Ngăi |
|
11 |
12. Micae Trương Văn Hành, lm 1965 |
1936 |
Nt Lư Sơn Quảng Ngăi |
|
12 |
14.Luca Nguyễn Huy Kỳ, lm 1968 |
1936 |
Nt Phú Thạnh B́nh Định 0914 088501 |
|
13 |
10. GB Nguyễn Thế Thiệp, lm 1964 |
1936 |
Nt Châu Ổ B́nh Sơn |
|
14 |
13. Giuse Phạm Thanh, lm 1966 |
1937 |
120 Trần Hưng Đạo Qui Nhơn 056829 179 / 0905 024 562 jmphamthanh@yahoo.com |
|
15 |
11. Phêrô Hoàng Kim, lm 1965 |
|