Viện Đại Học Đà Lạt
Giữa Ḷng Dân Tộc Việt Nam
1957-1975
(Bản Bổ Sung Lần I, 2/2008)
Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm
TRI ÂN
Kính Dâng
Hương Hồn Ba Vị Ân Sư,
*Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, Tiến Sĩ Thần Học, Giáo Luật, Kinh Thánh
Chưởng Ấn kiêm Viện Trưởng Tiên Khởi Viện Đại Học Đà Lạt (1957-1960)
**Linh Mục Simon Nguyễn Văn Lập, Cử Nhân Sử Địa,
Viện Trưởng Thứ Hai Viện Đại Học Đà Lạt (1961-1970)
***Linh Mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Lư, Giáo Sư Tiến Sĩ,
Viện Trưởng Cuối Cùng Viện Đại Học Đà Lạt (1970-1975)
“Đại Học Chi Đạo, Tại Minh Minh Đức, Tại Tân Dân, Tại Chỉ Ư Chí Thiện”.
ĐẠI HỌC
Người biên khảo cố tổng hợp một h́nh ảnh hết sức đầy đủ về những chặng đường của Viện Đại Học Đà Lạt theo cái nh́n chắc chắn có hạn chế. Nhưng người viết đă thực hiện bằng tất cả tấm chân t́nh xây dựng, yêu mến, lương tri và nhận thức sử học tích lũy được từ các bậc ân sư tiền bối. Chắn hẳn có thể có những sự kiện chi tiết không làm vừa ư người này người khác, nhưng xin hăy đọc mấy ḍng chữ này với tâm hồn b́nh thản, tha thứ, cảm thông, quảng đại và thân ái. Người biên khảo tiếp tục đón nhận mọi phê b́nh và góp ư xây dựng từ mọi nơi, mọi phía độc giả. Người biên khảo luôn tâm niệm rằng: “Thà đốt lên một đốm lửa, con hơn là ngôi yên nguyền rủa bóng tối”, dù vẫn biết là công việc ḿnh làm c̣n đầy khuyết nhược điểm, chủ quan.
Xin cám ơn các bậc trưởng thượng đáng kính, các linh mục, các giáo sư đồng nghiệp, các môn sinh khả úy, các thân hữu đă chia sẻ nhiều tài liệu quí giá, khuyến khích, góp ư, sửa chữa, bổ sung để người biên khảo đủ sáng suốt, nghị lực và nhiệt t́nh hoàn thành tập biên khảo này với thời gian kỷ lục trong thời đại vi tính ngày nay, tuy đă được ấp ủ từ lâu. Hy vọng càng tránh được nhiều sai lầm chủ quan càng tốt. Tuy nhiên, mọi khuyết nhược điểm, giới hạn nhân bản của tập khảo luận này hoàn toàn do người biên khảo chịu trách nhiệm. Đặc biệt người biên khảo xin tri ân các quí vị thân hữu có phương danh dưới đây:
Linh Mục Vũ Minh Thái, (Kentucky, USA)
GS Phó Bá Long (McLean, VA, USA)
GS Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương (Huế, Việt Nam)
Linh Mục Nguyễn Văn Đời (Sydney AU, RIP 15/5/2006)
GS Trần Long (Portland, OR, USA)
GS Trần Văn Mầu (Đà Lạt, Việt Nam)
GS Trần Văn Cảnh (Paris, Pháp)
Các Thế Hệ Môn Sinh Thụ Nhân Bằng Hữu:
Linh Mục Hoàng Đ́nh Mai, cựu chủng sinh GHHV/PIOX (Rạch Giá, Việt Nam)
Hồ Trí Thức, cựu chủng sinh GHHV/PIOX (CA, USA)
Nguyễn Văn Chi (Montréal, Canada)
Tạ Duy Phong (Houston, TX, USA)
Linh Mục Nguyễn Hữu Quảng, SBD (Melbourne, AU)
Phạm Văn Bân (Santa Ana, CA, USA)
Nguyễn Văn Năm (Houston, TX, USA)
Phạm Đ́nh Đắc (San Jose, CA, USA)
Trần Thanh Việt (Seattle, WA, USA)
Vĩnh An Nguyễn Văn Sơn (G̣ Vấp, Sàig̣n, Việt Nam)
Vơ Quỳnh Mai (Denmark, Europa)
Vũ Sinh Hiên (Sàig̣n, Việt Nam)
Đỗ Tấn Hưng (Vancouver, Canada)
Phạm Văn Lưu (Melbourne, Australia)
Xin Trời đổ tràn Ơn phù trợ xuống trên chúng ta.
Kỷ Niệm Mùa Đại Hội Thụ Nhân Vancouver, BC, Canada, Ngày 1&2/7/2006
Ḥa Giang Đỗ Hữu Nghiêm
Dayton, OH, USA, June 4th 2006. Pentecostal Sunday
Oakland, CA Hiệu Chính Và Bổ Sung Từ Ngày 10/1/2008.5
Viện Đại Học Đà Lạt Giữa Ḷng Dân Tộc
Chương I. Từ Thiên Nhiên Đến Con Người
Chương II. Lư Tưởng và Mục Tiêu
Chương III. Điều Kiện Hợp Pháp đến Hoạt Động Thực Tiễn
Chương IV. Hội Đại Học Đà Lạt
Chương V. Quá Tŕnh Thành Lập Viện Đại Học Đà Lạt
Chương VI. Khối Hành Chánh
Chương VII. Khối Tâm Linh
Chương VIII. Khối Phục Vụ Chuyên Biệt
Chương IX. Khối Học Thuật
Chương X. Một Số Dự Án của Viện Đại Học Đà Lạt
Chương XI. Trường Sư Phạm
Chương XII. Trường Văn Khoa
Chương XIII. Trường Khoa Học
Chương XIV. Trường Chánh Trị Kinh Doanh
Chương XV. Trường Thần Học
Chương XVI. Số Liệu Thống Kê Toàn Viện
Chương XVII. Những Mẩu Sinh Hoạt Rời Rạc
Chương XVIII: Những Ngày Xáo Trộn Từ Tháng 4/1975 Của Viện Đại Học Đà Lạt Tại Sàig̣n
Chương XIX. Ṿng Tay Liên Kết Thân Hữu Thụ Nhân
I. Hội Thân Hữu Thụ Nhân Quốc Ngoại
II. Hội Thân Hữu Thụ Nhân Quốc Nội
Giáo Tŕnh Trích Ngang:
Sư Phạm, Văn Khoa, Khoa Học, Chánh Trị Kinh Doanh
Danh Sách Phương Danh Các Giáo Sư Niên Khóa 1973-74
Trường Sư Phạm (28)
Trường Văn Khoa (69)
Trường Khoa Học (47)
Trường Chánh Trị Kinh Doanh (84)
Trường Thần Học
Phụ Lục III
Danh Sách Một Số Cựu Sinh Viên Đă Thành Danh
Phụ Lục IV
Các Văn Kiện Bàn Giao Viện Đại Học Đà Lạt Sang Chính Quyền Mới
Tài Liệu Tham Khảo
___________________________________________________
Chương Một: Từ Thiên Nhiên Đến Con Người
1. Môi Trường Thiên Nhiên Cao Nguyên Lâm Viên
Không ai không thấy điều kiện tự nhiên thuận lợi của Đà Lạt trong một miền nhiệt đới gần xích đạo. Đến nỗi người ta hiện nay hầu như chỉ nói, chỉ nghĩ đến Đà Lạt như một thành phố du lịch nghỉ ngơi với khí hậu trong lành giữa trời xanh tươi với bao thắng cảnh mê hồn. Nhưng ít ai chú ư đến cải vẻ thanh thoát ấy của Đà Lạt lại giúp cho con người học hành rất thú vị, dễ hiểu dễ nhớ, và làm việc quên mệt v́ nó giúp cho con người dễ đắm ḿnh học hành, làm việc vào trong cảnh trí hữu t́nh trong mát. Vùng trời tĩnh mịch, êm ả và mát mẻ giúp cho con người có nhiều khả năng tập trung. Đúng là thiên nhiên đă ưu đăi con người nơi đấy, bằng cách tạo cho con người một môi trường quyến rũ lạ thường ở một đất nước có lúc nóng bức như thiêu. Người viết đă sang bên Baguio, một thành phố của Phi Luật Tân nằm trên vùng núi phía Bắc của đảo Luzon, hải đảo lớn nhất của đât nước quần đảo này. Baguio có cao độ tương tự như Đà Lạt của Việt Nam nhưng không hề duyên dáng, quảng đại xinh đẹp và dịu hiền bằng Đà Lạt. Đà lạt có một không gian đủ thoáng rộng với địa h́nh nhấp nhô vừa phải, chứ không quá dốc hẹp gắt mạnh như tại Baguio mát mẻ nhưng gồ ghề, tuy Baguio cũng có quân trường nổi tiếng.
Môi trường tự nhiên đặc biệt đó không chỉ ở cao độ trung b́nh 1.500mét cao hơn mặt biển mà c̣n có những rừng thông, cỏ cây hoa lá cả ôn đới với đồi núi và hồ suối tự nhiên rất nên thơ mà ít nơi có. Chính v́ rừng thông Đà Lạt là bộ máy khổng lồ lọc không khí trong lành nhờ tính sát trùng của dầu thông. Tôi không muốn nói đến thiên nhiên Đà Lạt kiểu mổ tả địa lư, mà khơi lên những đặc điểm rất thực tế gần gũi mọi người đang cư trú tại đó. Đà Lạt là một vườn cảnh thu hẹp của thiên nhiên anh đào Tokyo Nhật Bản những ngày cuối tháng hai đầu tháng ba mỗi năm.
2. Môi Trường Văn Hóa Cao Nguyên Lâm Viên.
Nói đến đặc điểm lịch sử văn hóa và nhân văn của Tây Nguyên, th́ không thể không nói tới những người dân tộc sống hồn nhiên trong các buôn plei xa tít măi trong rừng. Họ bảo lưu một kho tàng quí giá rất hiếm hoi mà các nhà dân tộc gọi là văn minh truyền miệng, đặc biệt là nhà dân tộc học Dambo Jacques Dournes (1922-1993). Jacques Dournes vốn là một nhà truyền giáo nhiệt thành thuộc Hội Thừa Sai Paris, từng phục vụ cộng đồng dân tộc người Srê ở Lâm Đồng (1947-54) và cộng đồng dân tộc người Jơrai ở giáo phận Kontum (1955-1970).
Tất cả các dụng cụ may mặc, trồng trọt, âm nhạc, điêu khắc, hội họa và xây dựng nhà cửa, mộ táng đều là sản phẩm từ thiên nhiên: cây tre, cây nứa, ḥn đá, củi lửa, trường ca, tập tục như lễ đâm trâu, …. Trong cả vùng rừng thăm thẳm như thế, c̣n nằm yên không biết bao nhiêu kho tàng chôn vùi ở dưới đất, thậm chí người ta c̣n nói đến chiều dài và bề dầy lịch sử các đế quốc người Mạ cổ xưa, và dân tộc Churu. Những người này có bà con gần gũi với người Chàm cư trú từ duyên hải Phan Rang, Phan Rí cho đến Phan Thiết và đang cất giữ rất nhiều cổ tích văn hóa Chàm ở vùng núi và cao nguyên Phan Thiết giáp ranh với Lâm Đồng.
Kho tàng quan trọng khác là các ngôn ngữ và tập tục mà chúng ta cần nghiên cứu học hỏi. Họ, các cộng đồng dân tộc ́t người hiện nay, chính là h́nh ảnh thơ ấu của cộng đồng dân tộc người Kinh ngày nay. Thường chỉ có những tâm hồn đơn sơ yêu mến thiên nhiên mới muốn t́m thấy đến họ và chia sẻ với họ. Họ có một lịch sử của chính họ, dù mong manh theo cách riêng của họ. Họ dậy chúng ta hiểu thế nào là lịch sử truyền miệng mà các nhà sử học dân tộc học hiện nay rất coi trọng. Đó là nghiên cứu lịch sử cách sống của những cộng đồng người làm sao tồn tại được khi họ buộc phải sống len lỏi giữa chốn núi rừng tự do nhưng thật khắc nghiệt. Họ vẫn tồn tại giữa miền nhiệt đới pha tạp với các thảm thực động vật và khí hậu thuộc ôn đới ở các cao độ khác nhau, xa các nơi có nếp sống tiến tiến hơn ở vùng đồng bằng.
Tôi chưa chú ư đển những địa thế và nguồn nước khiến cho người ta có thể khai thác được thủy điện, hay nhiều khoáng loại đặc biệt như quặng bauxít, thậm chí quặng uranium và nhiều thứ thạch anh mà một thời nhiều nhà địa chất người Pháp đă từng miệt mài thám quật như Henri Fontaine, Edmond Saurin làm việc với Trường Khoa học ở Sàig̣n. Ít ai nghĩ đến việc hợp tác với người Mỹ, như Wilhelm Solheim II, giảng dậy tại Trường Đại Học Hạ Uy Di, để khai thác nhiều di chỉ của khảo cổ ở miền Tây Nguyên, để học được nơi các chuyên gia khảo cổ kinh nghiệm, kỹ năng trổi vượt của họ và những khoản tài trợ cần thiết hữu ích của họ trong lúc đất nước chúng ta c̣n thiếu thốn, vừa thoát cảnh đô hộ. Người Mỹ cũng rất nhiều chuyên gia ngữ học và dân tộc học chú trọng tới các ngôn ngữ, tập tục độc đáo của nhiều cộng đồng ngữ tộc ở Tây Nguyên. Người ta không thế không biết trân trọng nhiều công tŕnh ngữ học công phu của nhiều học giả Viện Chuyên Cứu Ngữ Học Mùa Hè (SIL- Summer Institute of Linguistics, Inc.) thuộc Trường Đại Học North Dakota. Tôi thầm ước ao có rất nhiều sáng kiến từ tập thể đại học Đà Lạt dấn thân năng động vào các dự án t́m hiểu vùng đất này về các mặt địa lư, địa chất, nhân văn, kể cả chánh trị kinh doanh, sư phạm và văn chương. Những nghệ sĩ tuyệt vời như Siu Black đă từng làm nổ tung Cao Nguyên với tiếng hát đầy nhựa sống...
Sau cùng người ta không thể không biết đến rất nhiều nỗ lực và hy sinh của các nhà truyền giáo Công giáo và Tin Lành đang có mặt, chen vai thích cánh ở địa bàn Cao Nguyên miền Trung Việt Nam.
Dường như họ cạnh tranh hay đối đầu quyết liệt với nhiều hoạt động của các nhà chánh trị thuộc nhiều xu hướng và phe phái quyền lợi khác nhau như Cộng Sản, không Cộng Sản trên đất nước Việt Nam. Sâu xa hơn là tác động của những thành phần chánh trị của người Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Trung Hoa, kể cả Kampuchia, Thái Lan, Mă Lai, Lào c̣n tham vọng đối với các dân tộc và nguồn lợi ở Cao Nguyên miền Trung sát vùng Tam Biên Việt-Miên-Lào truyền kiếp này.
Nh́n vào lịch sử Phi Luật Tân, Mă Lai, hay Nam Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung, th́ nếu số phận người dân tộc thiểu số, vốn cùng chung gốc với nhiều dân tộc trong vùng, được chính quyền liên hệ ở Việt Nam quan tâm hơn, th́ họ sẽ phát triển khởi sắc không thua kèm nhiều dân tộc làm thành các quốc gia có phần tiến bộ như ở các quốc gia vừa kể,…
3. Việt Nam Vào Thời Điểm 1954-1957
Thời gian mấy năm sau cuộc đại di cư tiếp theo sau Hiệp Định Genève 1954 cho ta thấy một t́nh h́nh có nhiều sắc thái đặc biệt thúc đẩy cho hoạt động văn hóa giáo dục như dự án thành lập Viện Đại Học Đà Lạt.
Việt Nam vừa bị chia cắt thực tế làm hai miền theo các điều khoản lịch sử của Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản từ vĩ tuyến 17 trở ra lấy tên nước là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hỏa. Con sông Bến Hải là ranh giới tự nhiên tạm thời giữa hai miền. Miền Nam theo chế độ tự do lấy tên là Việt Nam Cộng Ḥa, ở phía Nam vĩ tuyến 17.
Miền Nam phải đối phó với một cuộc di cư vĩ đại vượt quá tầm vóc của chính ḿnh, nếu không có quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, giúp đỡ. Ngoài những khó khăn của một nước nghèo nàn lạc hậu, Miền Nam rất thiếu chuyên gia sau cuộc phân chia đó về mọi mặt, đồng thời phải xây dựng một chế độ miền Nam vững mạnh. Sau cuộc di cư miền Nam phải đối phó mời nhiều khó khăn. Mấy vấn đề cơ bản sau khi ổn định xong cuộc di cư mà miền Nam phải đối phó là:
Thứ nhất cần xúc tiến thống nhất quân đội, các đảng phái, các tôn giáo và dành lại chủ quyền độc lập dân tộc từ tay người Pháp và từ tham vọng bá chủ của người Mỹ.
Thứ hai là xây dựng các cộng đồng di dân theo một chiến lược định cư có kế hoạch đa diện để vừa xây dựng kinh tế, vừa bảo vệ an ninh lănh thổ. Miền Nam phải canh chừng cuộc xâm nhập t́nh báo CS đủ loại cố nằm sâu trong các lực lượng quân dân cán chính toàn quốc ở miền Nam, nhất là trong các cộng đồng di dân, các dân tộc thiểu số ở Cao Nguyên và các lực lượng cựu kháng chiến Việt Minh c̣n lại tại miền Nam.
Thứ ba là củng cố một chính quyển dân chủ vững mạnh, ngay trong t́nh h́nh phải đối phó với chính sách hiếu chiến đầy tham vọng vốn có của miền Bắc nhằm áp đặt chế độ độc tài lên cả nước. Miền Nam hy vọng có thể đứng vững và bảo vệ lănh thổ và xây dựng chế độ xă hội độc lập dân tộc thực sự, và cùng thi đua phát triển với miền Bắc trong quá tŕnh thương thảo tiến tới thống nhất bằng con đường ḥa b́nh.
Không phải chỉ có GHCG mới đối phó với CS hữu hiệu nhất, nhưng nhiều hành vi của CS nhắm tập trung vào cộng đồng Công giáo mănh liệt nhất ở bất cứ nơi nào có sự xâm nhập của chủ nghĩa CS trên thế giới. Chính ví thế người CG có một vai tṛ tích cực, nếu không phải là tiên phong trong mặt trận ứng phó vói chủ trương chuyên quyền xây dựng đất nước, và tiêu diệt tôn giáo một cách có hệ thống.
Muốn thế cần phải tạo ra tài nguyên và huấn luyện nhân lực đủ tài đức. Trong khuôn khổ chế độ giáo dục toàn dân ở các cấp, nhất là cấp đại học quốc gia. GHVN qua HDGMVN, cũng ư thức được trách nhiệm đào tạo, góp phần vào công tŕnh xây dựng tài nguyên nhân lực chung của đất nước trong t́nh huống đa đoan ấy.
Thực tế lịch sử diễn ra chỉ trong năm 1955 đến gần hết năm 1956 bộc lộ nhiều khó khăn. Đây là giai đoạn có nhiều vấn đề phức tạp đặc biệt: người Pháp t́m cách kéo dài quyển lợi thực dân của họ ở Đông Dương, bằng cách mua chuộc các chính đảng, các lực lượng quân sự tôn giáo có nền tảng từ nhiều giáo phái chống lại chính quyền do TT Ngô Đ́nh Diệm cầm đầu, ngơ hầu phân hóa lực lượng quân sự, chính trị và tôn giáo trong nước.
Cuộc đối phó với ba tổ chức chính trị có nền tảng tôn giáo: B́nh Xuyên, Hỏa Hảo, Cao Đài và lực lượng gắn bó với Pháp, vào thời điểm 1957-58 tương đối tạm lắng xuống, ít ra bề ngoài. Chính trong bối cảnh xă hội ấy, th́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm tập trung sức lực vào xây dựng cơ chế vững vàng hơn. Hồng Y Spellman là một trong nhiều yếu tố xúc tác khá quan trọng lôi kéo quốc tế vào quá tŕnh định cư và xây dựng ở miền Nam ở giai đoạn từ 1954 đến 1965. Cuộc xây dựng VDHDL chắc chắn đă có bàn tay của ngài, thể hiện trong ṭa giảng đường nguy nga mang tên Spellman theo một tầm nh́n có tính chiến lược lâu dài và cơ bản.
Chính những tiền đề đó là bối cảnh cho việc GHVN đi đến thành lập một Hội Đại Học để xây dựng một Viện Đại Học Đà Lạt trên chốn cao nguyên này.
Chương Hai: Lư Tưởng và Mục Tiêu Giáo Dục
Người viết rất đồng ư với nhiều suy tư của GS Nguyễn Khắc Dương về mục tiêu của giáo dục đại học Công giáo. Trong bài huấn dụ sinh viên nhân lễ tốt nghiệp khóa I của Trường Đại Học Sư Phạm, GM Chưởng Ấn[1] Ngô Đ́nh Thục tiên khởi đă phát biểu:
“Ở bất cứ đâu, Giáo Hội Công Giáo đă từng góp phần giáo dục thanh thiếu niên. Trên khắp lănh thổ Việt Nam thân yêu của chúng ta, từ Bắc chí Nam, từ làng quê đến thành thị, các trường trung tiểu học được Công giáo bảo trợ đang hoạt động hăng hái. Rất nhiều cựu học sinh của những trường này đang phục vụ dân tộc chúng ta trong nhiều lănh vực hoạt động khác nhau.
Nhưng Đất Nước vào giai đoạn phát triển mới cần có những nhân sự được huấn luyện đầy đủ đế có thể đáp ứng với những đ̣i hỏi mới.
Nhằm tiếp tục truyền thống giáo dục của Giáo Hội Công giáo góp phần vào nhiệm vụ quan trọng là đào tạo giới ưu tú cho Đất Nước, toàn thể các Giám Mục Việt Nam đă quyết định thành lập Viện Đại Học Đà Lạt, mặc dù có nhiều khó khắn về tài chánh và nhân sự. Các Giám Mục tin tưởng rằng các sinh viên của chúng ta - nhờ các giáo sư giảng dậy tận tâm, có giáo thuyết trong sáng bảo đảm, sẽ đạt tới những kết quả thỏa đáng, trong toàn môi trường cảnh quan và khí hậu cao nguyên trong mát này[2]”.
Tiếp lời vị GM Chưởng Ấn, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Trần Hữu Thế cũng phát biểu:
“Xứ sở chúng ta đă cố gắng phấn đấu kiến thiết nền tảng tinh thần và vật chất do yêu cầu tiến bộ của toàn dân. Chúng phủ kêu gọi đến thiện chí của các cá nhân và tổ chức. Viện Đại Học là một gương sáng hợp tác đó, và sự thành công của Viện Đại Học Đà Lạt chứng tỏ cho tôi viện có đủ tinh thần tham dự vào việc đào tạo các kỹ thuật gia và các nhà trí thức cho Việt Nam, cùng với các viện đại học quốc gia[3].”
Trong bản tường tŕnh cũng của GM Chưởng Ấn Viện Đại Học Đà Lạt kính gửi Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, sau bốn năm xây dựng và hoạt động, những mục tiêu của việc thành lập một Viện Đại Học đă được nhắc lại rơ rệt:
a. Nhằm cung ứng cho sinh viên Việt Nam nói chung, và cách riêng cho những người Công giáo. Chính họ vẫn mong muốn học hỏi, nhưng thiếu một trung tâm cho họ có thể tiếp tục những công cuộc học hỏi ở đó.
b. Nhằm đảm lănh cuộc phục hưng đạo lư của những trí tuệ đă đi lạc đường trong nhiều năm rối loạn chiến tranh đă qua.
c. Nhằm mở rộng nền giáo dục Đại Học nơi quần chúng, nhất là nơi những người Công giáo, ngơ hầu bắt kịp tiến bộ chung của nhân loại[4].
Thực ra suy nghĩ sâu xa hơn, việc thành lập Viện Đại Học Đà lạt, cũng như bất cứ sinh hoạt nào của Giáo Hội đều thực hiện sứ mạng “truyền giáo”, tức là loan Tin Mừng cứu độ cho mọi loài thụ tạo, cho đến tận cùng trái đất, tận cùng thời gian. Truyền giáo là một trong những bổn phận căn bản của Kitô giáo, của từng Kitô hữu.
Giáo Hội muốn Kitô hóa mọi giá trị tốt đẹp của trần thế; muốn cứu độ mọi sinh hoạt văn hóa xă hội và kể cả kinh tế chính trị, nên Đại học Công giáo cũng nhằm nhập thể giá trị cứu độ vào mọi sinh hoạt văn hóa của mọi dân tộc, mọi thời đại, mọi nền văn minh, chứ không nhằm mục đích chính trị nào cả. Nền văn hóa được giảng dạy trong Đại Học Công giáo không theo (chứ không chống lại) duy vật và vô thần về mặt tư tưởng nhằm tạo điều kiện cho con người tiếp nhận chân lư hữu thần của Kitô giáo. Đạo Kitô muốn thâu gồm và bổ khuyết mọi giá trị chân chính của các triết lư khác.
Chẳng hạn, theo cái nh́n của một giáo sư triết học, th́ chủ thuyết vô thần Mác–xít ít nhất cũng có ba yếu tố được nh́n với thiện cảm:
“1. Mọi tài sản ở trần gian đều có mục đích phục vụ cộng đoàn nhân loại, trái với chủ nghĩa duy lợi nhuận cá nhân của chủ trương tự do kinh doanh quá trớn.
2. Giá trị kinh tế cũng như tinh thần và đạo đức của người lao động, và tôn trọng lao động chân tay; Thánh Phụ Giuse, Chúa Giêsu, các Thánh tông đồ hầu hết là thành phần lao động chân tay.
3. Công bằng xă hội trong việc phân phối sản phẩm của lao động… Thậm chí cả yếu tố duy vật và vô thần cũng được xem như có phần tác dụng tích cực nào đó; giúp người tín hữu lưu tâm hơn đến khía cạnh mầu nhiệm “Thiên Chúa mang lấy xác phàm” khỏi bị lạc vào cái sai lầm duy tâm (idéalisme); tinh luyện quan niệm về Thiên Chúa, thoát khỏi sa lầy vào một sự mê tín dị đoan ngấm ngầm vô thức [trang 174] nào đó, có nguy cơ tha hóa con người, vốn được Thiên Chúa ban cho có lư trí và tự do làm chủ đời ḿnh, xă hội và thiên nhiên.”[5]
2/. Truyền giáo và chính trị trần thế
Mục đích là thế, c̣n việc có bị ai lợi dụng không? Có thể thấy rằng đương nhiên; chính quyền nào cũng muốn lợi dụng tất cả để phục vụ cho mục tiêu của ḿnh! Giáo Hội và cá nhân thừa hành có chủ ư phục vụ cho một mưu đồ chính trị đảng phái không hay có vô t́nh để cho người ta lợi dụng không, như thế không thể vơ đũa cả nắm. Giáo Hội không chủ trương dùng Đại Học Đà Lạt để phục vụ chính trị cho chế độ nào cả!
Theo nhận định của GS Nguyễn Khắc Dương, từng phục vụ tại Viện Đại Học Đà Lạt chín năm (1966-1975):
“C̣n phần cá nhân các linh mục, các thành viên trong giáo ban th́ đó là chuyện riêng tư cá nhân họ, tôi không biết thâm tâm họ ra sao, nhưng tôi không thấy ai đă làm công việc cụ thể nào phục vụ cho mục tiêu chính trị nào cả! Mà tôi, riêng bản thân tôi, tôi xác định rằng tôi không phục vụ cho mục tiêu chính trị nào cả, mà tôi cũng đă cố gắng hết sức nếu có thể, không để cho ai lợi dụng ḿnh phục vụ cho một mục tiêu chính trị nào cả, c̣n hỏi tôi rằng có đủ khôn ngoan già dặn để đối phó, thoát khỏi mưu mô của những tay cáo già chính trị hay không? Th́ tôi xin hỏi lại, có ai dám quả quyết ḿnh tài giỏi như vậy, để tôi xin cắp sách đến học.
Tôi chỉ có thể nói rằng tôi không thấy có việc cụ thể nào (nhằm mục đích ấy) tôi làm để phục vụ cho một mục tiêu chính trị. Có chăng là một vài việc trong đó tôi bị phê b́nh là: “Có lợi cho Cộng sản”, ví dụ quá tích cực trong việc xin miễn dịch, hoăn dịch cho sinh viên hoặc để cho các sinh viên tá túc qua đêm trong pḥng tôi (dù họ đến gơ cửa lúc đêm khuya) không cần biết họ có phải là Việt Cộng nằm vùng hay không, mà chỉ biết họ là người quen lỡ đường, th́ theo lời Chúa dạy ḿnh phải đón tiếp họ như chính Chúa vậy, người sinh viên ấy có thể là Đại Việt, Cần Lao, là Việt cộng, là thành phần thứ 3 thứ 4 ǵ đó, tôi không thể biết được và tôi cũng không muốn biết, tôi chỉ biết họ là con người gặp khó khăn chờ tôi giúp đỡ, thế thôi!
Tôi không kể công với ai, mà tôi nghĩ tôi cũng chẳng có tội với ai về mặt chính trị v́ tôi là một con người vốn phi chính trị từ trong bản chất và dù chỉ là một giáo dân thường, [trang 175] tôi phát nguyện trọn đời phục vụ Thiên Chúa, và với cương vị giáo sư một Trường Đại học Công giáo, tôi là cán bộ văn hóa làm việc dưới sự quản lư của Hội Thánh Công giáo Việt Nam, để chống trả ba kẻ thù của Chúa Giêsu - Đó là: dốt nát, đau khổ và tội lỗi.
Trước hết là nơi chính bản thân tôi, sau nữa là nơi những anh chị em mà Chúa để cho tôi gặp gỡ trên mỗi nẻo đường không phân biệt ai, không hỏi căn cước lư lịch ai, v́ ai cũng là thân phận làm người trong một cơi thế gian mà sự dữ đă len vào để quấy phá chương tŕnh của Thiên Chúa dưới mọi h́nh thức, ở khắp mọi nơi; ngay cả trong ḷng Hội Thánh và trong ḷng tôi nữa. Và v́ thế tất cả đều cần được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Do đó, khi ư Chúa nhiệm mầu đưa Viện Đại Học đến chỗ ngưng sinh hoạt, tôi vui vẻ nhẹ nhàng theo ư Chúa đi đến những nơi khác, làm những việc khác (ví dụ, gánh phân bón ruộng) với tất cả ḷng tin cậy mến b́nh an vui vẻ, cố gắng thương yêu mọi người trong t́nh yêu Chúa. Cố nhiên đó là cố gắng tối đa, c̣n đạt được bao nhiêu là việc Chúa thẩm phán, tôi không tự đánh giá ḿnh và cũng chẳng quan tâm đến lời thiên hạ (dù là ai) thị phi khen chê cả! Chỉ sợ ḿnh vô ư làm buồn ḷng anh chị em mà thôi.”[6]
“Phải chăng, đáng lẽ tôi phải biết như thế để bỏ cái ham mê ấy mà cố gắng tạo một sự nghiệp văn hoá thế tục trần gian. Tôi chỉ hỏi thế thôi, chứ với sự giải thể Viện Đại Học Công giáo Đà Lạt năm 75 th́ cũng chưa rơ ư Chúa mầu nhiệm muốn ǵ, bởi v́ như tôi đă ghi ở trên, kể từ năm 73, tôi đă t́m cách bắt tay vào, tuy có hơi muộn nhưng cũng là chưa muộn màng lắm! Dầu sao, đến năm 75, th́ lịch sử đă sang trang! Viện Đại Học Đà Lạt nay là một trường đại học của một nền giáo dục xây dựng trên nền tảng lư thuyết Mác-Lê, Giáo Hoàng Học Viện nay là cư xá của công nhân viên chức thuộc Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân!”[7]
Tưởng cần giải thích chiều hướng ư nghĩa mà tập thể Viện Đại Học Đà Lạt đă nhận thức và chọn lựa. Có thể ư nghĩa trở nên rơ rệt hơn từ thời LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập cùng với nhiều người đă ghi khắc chữ Thụ Nhân cho huy hiệu Viện Đại Học Đà Lạt, với cây thông xanh cây đứng hiên ngang giữa vùng trời cao nguyên. Lư tưởng Thụ Nhân này bắt nguồn từ danh ngôn cổ truyền của văn hóa Á Đông:
“Nhất Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Nhân” (Kế Hoạch Một Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Lúa, Kế Hoạch Mười Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Cây, Kế Hoạch Trăm Năm, Không Ǵ Bằng Trồng Người).
Từ đó Thụ Nhân trở thành phương châm biểu tượng và thực hành cho lư tưởng giáo dục “trồng người” của Viện Đại Học Đà Lạt cho đến nay.
Chương Ba. Điều Kiện Hợp Pháp Đến Hoạt Động Thực Tiễn
1. Việc Thành Lập Theo Luật Pháp
Về pháp lư dân sự, Hội Đại Học Đà Lạt được giấy phép hoạt động chính thức theo Nghị Định số 67/BNV/NA/P5 của Bội Nội Vụ kư ngày 8/8/1957[8] và bắt đầu từ niên khóa 1957-58. Nhưng trong thực tế chính nhiều người có trách nhiệm của Viện Đại Học Đà Lạt lại nói Viện này được thành lập vào những thời điểm khác nhau. Như vậy thực sự Căn bản pháp lư của Hội Đại Học Dà Lạt đă có từ ngày 8 tháng 8 năm 1957.
Và để tạo điểu kiện cho Hội ĐHĐL hoạt động th́ nhà nước gửi sinh viên của chính phủ lên thụ huấn bởi chính những giáo sư từ Sàig̣n đến Viện Đại Học Đà Lạt giai đoạn ban đầu, ít nhất là ba năm từ các niên khóa 1958-1959 đến 1961. Đây là năm có khóa tốt nghiệp đầu tiên của ba năm thụ huấn tại Đà Lạt của sinh viên ban Triết Học và Pháp Văn, do nhà nước gửi tới.
Văn kiện thứ hai là Sắc Lệnh số 232/NV do Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa kư ngày 9/9/1959[9] công nhận Hội Đại Học Đà Lạt là một hội công ích và công nhận Hội Đồng Quản Trị của Hội này là một tổ chức pháp nhân[10]. Căn bản đó giúp Hội Đại Học có đầy đủ tư cách pháp nhân để tạo măi tài sản hợp pháp, được hưởng nhiều thứ quyền lợi về kinh doanh, nhất là xuất nhập cảng, với nhiều ưu tiên khác, như không phải đóng thuế v́ hoạt động công ích.
Đây là hai văn kiện pháp lư đầu tiên giúp Hội Đại Học Đà Lạt có điều kiện để hoạt động kinh tài xây dựng Viện Đại Học. V́ thế việc tạo măi đầu tiên mà Hội Đại Học Đà Lạt đă thực hiện do việc thành lập một Nhóm Cố Vấn Pháp Lư[11] để thi hành các thủ tục và thương thuyết với Chính Phủ. Chỉ đến tháng Ba năm 1960, Chính Phủ Việt Nam mới chấp nhận yêu cầu của Hội. Chính Phủ đă dành cho Đai Học Đà Lạt quyền chiếm hữu khuôn viên hiện có trong thời gian vô hạn định.
Như thế theo thủ tục pháp lư, Hội đă mua hẳn cơ sở Trường Thiếu sinh quân trước kia, lúc đó chuyển thành Camp Robert, mà nhà nước Việt Nam tiếp quản từ quân đội Pháp với giá tương trưng là 1 đồng bạc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam bán đứt cho Hội Đại Học Đà Lạt với giá cao hơn (xin xem dưới cũng trong bài viết này, trang 17). Với lợi tức phát triển dần dần, Hội Đại Học đă mua hẳn những tài sản kinh doanh để tài trợ cho các hoạt động giáo dục lâu dài, ổn định của Viện Đại Học.
Những văn kiện tiếp theo chỉ có tính cách bổ sung về các phương diện học vụ củng cố cho việc phát triển của Viện Đại Học Đà Lạt ở những giai đoạn khác nhau về sau. Những văn kiện đó sẽ được khai triển trong quá tŕnh cấu trúc thích hợp của nghiên cứu này.
2. Những Cảm Nhận Và Chứng Từ Thực Tế Khác
Chính hai thời điểm của văn kiện pháp lư đó và những cuộc thương lượng gay go có liên quan đă giải thích những cảm nhận khác nhau về quá tŕnh h́nh thành Viện Đại Học Đà Lạt sau này. Theo Niên Giám 2005 của HĐGMVN trang 777, Viện Đại Học Công giáo được thành lập vào tháng 8 năm 1957[12] tại Đà Lạt, thuộc quyền sở hữu của Hội Đại Học Đà Lạt, mà hội viên là toàn thể các giám mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Viện có mục đích phát huy văn hóa dân tộc, bảo lưu các giá trị văn hóa cổ truyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, kết hợp hài ḥa với luồng văn hóa quốc tế, phù hợp với tinh thần Tin Mừng Công giáo và góp phần vào giáo dục các thế hệ để phát triển đất nước và dân tộc. Trong bối cảnh xă hội tại Việt Nam, thiết tưởng nên phân tích thêm một số mặt để làm rơ mục tiêu tôn chỉ[13] này như trên.
1. Quá Tŕnh H́nh Thành.
Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng.
Ban đầu chính TGM Ngô Đ́nh Thục chủ động thiết lập “Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng[14]” ngay từ năm 1957, nhằm mục đích kinh tài yểm trợ cho các hoạt động phục vụ xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt.
Có nhiều vận động yểm trợ từ Cơ quan Viện Trợ Công giáo Hoa Kỳ, qua các ông Đinh Văn Bài[15] và Công Chứng Viên Phạm Quang Lộc, khi đó là cố vấn cộng tác với LM phụ trách do HĐGMVN chỉ định[16]. Ông Bài, một nhân viên xă hội làm việc tại Cơ Quan đó, cho biết có nhiều bất động sản khởi đầu được dự tính trao cho Hội làm phương tiện kinh doanh.
Các lợi tức có được, dùng để tài trợ cho việc tạo măi tài sản, thiết lập và duy tŕ liên tục công cuộc phát triển Viện Đại Học Đà Lạt. Khi đó, có cả những bất động sản như: khu rừng Cao su ở Củ Chi, Trảng Bàng, B́nh Long, và Thủ Đức, do người Pháp trao trả hay bỏ lại. Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng dường như có vai tṛ hoạt động kinh tài song hành một thời gian nhất định yểm trợ cho việc thành lập Hội Đại Học Đà Lạt. Hội Đại Học này trở thành chính thức vào tháng 8/1957.
Trong số những h́nh thức vận động tài trợ của Hội Đại Học Đà Lạt, ngoài những vận động tài chánh ở hai ngoai, c̣n vận động tài trợ từ phía chính phủ Việt Nam.[17]
- Công văn số 415-TTP/ĐL/M ngày 4-12-1957 của Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Tổng Thống gởi Bộ Trưởng Bộ Tài Chánh ghi lại:
“Do công văn số 1570-BTC/DC/B ngày 5-8-1957, ông Bộ trưởng có đề nghị Tổng thống tặng dữ đồn điền tại Blao, tịch thâu của Lê Văn Viễn, cho trường Đại học sắp thành lập tại Đà Lạt. “Sự tặng dữ này khi trường Đại học nói trên đă hoàn thành và có tư cách pháp nhân để nhận lănh. “Tôi trân trọng tin để ông Bộ trưởng rơ: Tổng thống chấp nhận đề nghị trên đây của ông Bộ trưởng.” [18]
- Tiếp đến, theo yêu cầu của Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, ngày 31-7-1958, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết và Thiết kế đô thị đă gởi Công văn số 1392/BKTĐT/KOC đến ông Ngô Đ́nh Diệm đề nghị cho trường Đại học này được ứng trước 5.000.000 đồng để dùng vào việc xây cất trường. Công văn viết:
“Với mục đích giúp phương tiện cho Đức Tổng (Chú thích của người viết: thực sự, Giám Mục Ngô Đ́nh Thục măi năm 1960 mới lên chức Tổng Giám Mục khi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Huế) Giám Mục, Chưởng Ấn Trường Đại học Đà Lạt, thực hiện ngay việc xây cất nhà trường trong dịp nghỉ hè, để kịp khai giảng vào niên khóa 1958-1959, Thiểm bộ kính xin ông Tổng thống cho phép Ngân Sách Tự Trị Quốc Gia Kiến ốc Cục, tài khóa 1958, ứng trước ra một ngân khoản 5.000.000 đồng để sử dụng vào công tác nói trên.”[19]
- Để xúc tiến hợp thức việc ứng trước, ngày 2-8-1958, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm ra nghị định số 272-KT/TKĐT “cho phép mở một kỳ Xổ số đặc biệt để xây dựng Trường Đại học Đà Lạt.” [20]
Dĩ nhiên nên biết là 5 triệu đồng vào thời đó có giá trị rất lớn, và cứ kéo dài măi việc thực hiện đề nghị trên một cách nào đó là bất hợp lư, nhưng để làm giải quyết nhu cầu, số tiền trên đă được chuẩn chi đặc biệt như một ngoại lệ.
Công văn số 33.275B/19.057-TP/NSNV/CT/3B, ngày 12-8-1958 của Tổng Thư kư Phủ Tổng thống nói rơ trường hợp này: “Riêng về phần pháp lư… là một cơ quan tư, trường Đại học Đà Lạt có thể đứng ra vay tiền của Quốc Gia Kiến Ốc Cục. Trên căn bản, cơ quan này khó ḷng thỏa măn đơn vay ấy được, v́ trái với mục tiêu cho vay của cơ quan.”
Có lẽ v́ lư do ấy nên Bộ Kiến Thiết mới tŕnh lên Tổng thống để ứng trước, v́ là một ngoại lệ. Thủ tục này có phần đúng, nhưng về phương diện tài chánh, một khi Tổng thống cho phép, tất nhiên chính phủ đă mặc nhiên bảo đảm số nợ cho tư nhân, và như vậy Ngân Sách Quốc Gia bị buộc trả, nếu tư nhân không trả được. Trên nguyên tắc, sự đảm bảo như vậy khó ḷng thực hiện được. Tuy nhiên, nếu việc nâng đỡ trường Đại học Đà Lạt là cần thiết và được thượng cấp chấp nhận, Nha này tưởng có thể áp dụng thủ tục sau đây:
“a. Để Hội Đồng Quản Trị của Quốc Gia Kiến ốc Cục quyết định về đơn vay của trường Đại học; mặc dầu không đúng với mục tiêu của cơ quan, nhưng Hội đồng có thể xét được v́ tánh cách của công tác;
“b. Áp dụng Điều thứ 16 của nghị định ngày 15-6-1951… quyết định cho vay phải được Tổng thống chuẩn y để có hiệu lực thi hành;
“c. như vậy số chi phí trên sẽ được ghi vào Ngân Sách Của Kiến Ốc Cục.”
Và ngay ngày hôm nay (13-8-1958), bằng Nghị định số 281-KT/TKDT, chính quyền NĐD đă “cho phép Quốc Gia Kiến Ốc Cục ứng trước cho trường Đại học Đà Lạt một số tiền là năm triệu đồng (5.000.000)” (Điều 1) và “trường Đại học Đà Lạt phải hoàn lại số tiền ứng trước cho Kiến Ốc Cục khi thâu được lợi tức kỳ Xổ số “Loại đặc biệt Trường Đại học Đà Lạt” phát hành năm 1958” (Điều 3) [21].
Dù thế nào chăng nữa th́ dưới cái nh́n của nhiều người nhất là người tin theo đạo Phật, Trường Đại Học Đà Lạt đă được xây dựng phần nào bằng phương tiện và tài chánh quốc gia, và phản ứng của giới Phật Giáo, nếu có, khi đó là một điều dễ hiểu.
Báo Newsweek ra ngày 27-5-1963 viết, phản ảnh một phản ứng về phía Phật giáo vào thời điểm ấy: “Khi một Viện Đại học Công giáo được thiết lập tại thành phố miền sơn cước Đà Lạt, một công chức Phật tử đă than phiền rằng: “Chúng tôi là tín đồ Phật giáo nên không thể được như thế.” [22]
Công tŕnh xây dựng. Nhờ tài trợ[23] của Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng, các bộ phận sau đây đă lần lượt được xây dựng trên khuôn viên VĐHĐL: các pḥng thí nghiệm Lư Hóa, Thư Viện, văn pḥng, giảng đường, xe hơi, sách vở, trang thiết bị pḥng thí nghiệm, pḥng đọc sách, nhà chơi, nhà y tế, sửa chữa, bài tŕ giảng đường, nhà cơm, nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà bảo vệ, san bằng nền đất, thiết trí điện thoại, xây dựng nhà hội để cử hành lễ nghi tôn giáo (1958-61)
Yểm Trợ tài chánh ngắn hạn để sửa chữa bảo tŕ cơ sở vật chất, để trả lương giáo sư và nhân viên, để lập Quỹ Dự Trữ từ đầu tài khóa 1958 đến hết tháng 6/1961.
Yểm trợ tài chánh dài hạn để tạo măi ba cở sở:
Bất động sản hạng nhất ngay trung tâm Sàig̣n, ở góc Lê Lợi-Nguyễn Huệ (133 Nguyễn Huệ Sàig̣n).
Bất Động Sản ở Đa Kao, ở góc Đinh Tiên Hoàng-Nguyễn Văn Giai
Bất Động sản ở Công Trường Lam Sơn.
Các tài sản khác đă lần lượt được tạo măi làm phương tiện phục vụ công ích của Hội Đại Học Đà Lạt
Hội Đại Học Đà Lạt.
Hội Đại Học Đà Lạt được tổ chức theo quy chế[24] đă được ấn định và có thể h́nh dung theo biểu đồ sau đây:
Biểu Đồ 1: Cơ Cấu Tổ Chức Hội Đại Học Đà Lạt
|
|
Hội Đại Học Đà Lạt |
|
|
|
Hội Đồng Quản Trị |
|
|
|
Ủy Ban Thường Trực |
|
|
|
Tổng Quản Lư
|
|
|
(Các Cơ Sở Kinh Doanh) |
||
|
Thương Xá TAX |
Thư Quán Xuân Thu |
Ngân Hàng Nông Thôn Đức Trọng |
|
Thương Xá Đinh Tiên Hoàng |
Cao Ốc Lam Sơn |
Đồn Điền Đại Nga |
|
Cơ sở Viện Đại Học tại Đà Lạt |
|
Đồn Điền Di Linh |
|
Chú thích: 1/Chức vụ Tổng Quản Lư có nhiệm vụ Quản Trị & Điều Hành các Cơ Sở Kinh Doanh của Hội Đại Học Đà Lại. Lợi Tức Thuần Tính (Net Income) do những Cơ Sở này mang lại, một phần lớn đượcc đưa vào Ngân Sách Chi tiêu của Viện Đại Học Đà Lạt. Từ 6/70-4/75, Các Cơ Sở Kinh Doanh do G.S Trần Long phụ trách) 2/ Cơ sở xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt gồm ba khu đồi A, B, C. Diện tích khuôn viên khu A xây dựng trường sở gồm chừng 38-40 ha |
||
Hội Đồng Quản Trị Hội Đại Học Đà Lạt hoạt động khởi đầu theo Qui Chế ấy, được đính kèm Nghị Định số 67-BNV/NA/P5 ngày 8/8/1957. Hội Đồng Quản Trị cho năm 1961 gồm có TGM Ngô Đ́nh Thục, Chưởng Ấn quản trị viên, và ba Giám Mục quản trị viên là Nguyễn Văn B́nh, Nguyễn Văn Hiền và P. Piquet[25]. Vào thời gian đầu ấy, Ông Phạm Quang Lộc, công chứng viên tại Sàig̣n được chọn làm cố vấn pháp lư và tài chánh cho Hội Đồng.
Hội Đồng Quản Trị về sau được thành lập gồm: Chủ Tịch (GM Nguyễn Văn Hiền, GM Đà Lạt), Hội Viên 1 (GM Phạm Ngọc Chi, GM Đà Nẵng), Hội viên 2, Chưởng Ấn VĐHĐL (Giám Mục Nguyễn Ngọc Quang, Gp Cần Thơ)[26]. HĐQT cử nhiệm một Ủy Ban Thường Trực để điều hành công việc.
Ủy Ban Thường Trực về sau cuối cùng gồm Chủ tịch (linh mục Viện Trưởng Lê Văn lư), một ủy viên tổng quản lư (GS Trần Long) và một ủy viên tổng kiểm soát (Ông Trần Văn Bốt). Trong một thời gian lâu dài, chính LM Nguyễn Văn Thạnh làm Quản lư của GP Sàig̣n kiêm nhiệm quản lư Hội Đại Học Đà lạt. LM Nguyễn Hữu Trọng[27] làm kiểm soát viên. Ông Đỗ Văn Thành coi nhà sách Xuân Thu, kiêm thư kư phụ trách Chánh Văn Pḥng Liên Lạc của Viện Đại Học Đà Lạt tại Sàig̣n.
Khi Linh Mục hồi hưu, th́ người được cử nhiệm làm Tổng Quản Lư là GS Trần Long. Theo Hồi Kư của GS Trần Long, th́ “tháng 7/1970, tôi được bổ nhiệm làm Tổng Quản Lư Hội Đại Học Đà Lạt (Dalat University Foundation), và về Sàig̣n để cai quản những cơ sở sinh lợi của Hội. Đầu năm 1971, khi tôi dọn vào căn pḥng mới lầu hai Catinat Building ở trung tâm Sàig̣n”[28], có ông Vũ Anh Tuấn đặc trách hành chánh địa ốc.
a. Về t́nh h́nh tài chính của viện h́nh thành thực sự sau 1/11/63 bằng các nguồn sau đây:
- học phí của sinh viên hầu như có tính tượng trưng, v́ chỉ ấn định là 500 đồng/năm/người
- tài trợ của quốc hội khoảng 30.000/năm, nằm trong Ngân Sách Bộ Giáo Dục được công bố hằng năm
- trợ cấp của Ṭa Thánh Vatican gồm 20.000 Mỹ kim/năm, tương đương trợ cấp dành cho một giáo phận
Tổng số tiền trợ cấp nói trên chỉ đủ chi tiêu tiết kiệm cho viện. Nếu có dư chút ít th́ dành để trợ giúp sinh viên. Nếu cần vài ba triệu dồng th́ có mạnh thường quân là bạn bè của linh mục viện trưởng ở Sài G̣n cho vay.
Nên biết để mời các giáo sư thỉnh giảng từ Sài G̣n lên Đà Lạt giảng day, mỗi tháng Viện phải trả 3, 5 triệu đồng[29].
Trong khoảng thời gian từ lễ Giáng Sinh cho đến Tết âm lịch hằng năm, một nét đặc trưng của Viện Đại Học Đà Lạt là các nhóm sinh viên thường tổ chức party thâu đêm suốt sáng, Điều này thường chỉ có thể thực hiện được là nhờ giúp đỡ tài chánh của linh mục Viện Trưởng Lập. Thật vậy, trong Viện lúc đó có rất nhiều nhóm, như Nhóm Rong Biển Nha Trang, Nhóm Bông Bưởi Biên Ḥa, Nhóm Huế, Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Chí Nguyện… Thời đó, ít nhất cũng có từ 30 đến 40 nhóm. Mỗi nhóm khi tổ chức party, tất cả đều lên xin tiến linh mục Viện Trưởng.
Đây là điển h́nh câu chuyện diễn ra như thế này:
Trưởng Nhóm:
-Nhóm chúng con muốn tổ chức party mừng Giáng Sinh (hoặc Tết), xin cha giúp cho chúng con một ít tiền.
Linh mục trả lời:
-Các con tổ chức, con phải đóng góp trước đă.
-Thưa cha, chúng con cung đă cố gắng đóng góp nhưng không đủ, nhất là tụi con ở xa nhà không có nhiều tiền.
Linh mục trả lời:
-Như vậy, party dự định bao nhiêu người?
-Thưa cha khoảng 100 người, chúng con đă đóng góp mỗi đứa 5 đồng. Tổng cộng được khoảng 500 đồng. Xin cha cho them một ít, để party thêm xôm tụ.
-Bây giờ cha cho hai ngàn rưỡi được chưa?
-Xin cha cho chúng con thêm một ít nữa. Cha bảo:
-Thôi cha cho 4 ngàn đó. Cầm giấy này, qua pḥng kế toán kư giếy nhận tiền.
Sau chuyện liên hoan, là chuyện sinh viên về nhà ăn Tết. Viện Đại Học Đà Lạt thường nghỉ Tết đặc biệt hơn các Đại Học khác, là nghỉ một tháng. Trước Tết, các sinh viên (đa số là các nữ sinh viên) hay đến mượn tiền linh mục để mua vé máy bay về nhà ăn Tết, thường với lư do bưu phiếu gởi lên chưa kịp. Nhưng sau khi mua được vé máy bay rồi, các anh chị này c̣n trởlại gặp linh mục và thường nói rằng:
“Cám ơn cha rất nhiều đă cho con mượn tiền mua vé máy bay, nhưng bây giờ đi xa về nhà mà không có quà cáp cho gia đ́nh th́ kỳ quá. Xin cha cho con mươn thêm một ít tiền nữa để mua quà cáp cho bố mẹ và các em trong gia đ́nh”.
Thế rồi linh mục cũng đành bấm bụng cho các anh chị này mươn thêm tiền. Nhưng có một điều đáng nói, là số sinh viên mượn tiền trả lại ṣng phẳng cho Viện thường không bao nhiêu. Đến năm 1970, lúc linh mục Lập rời chức vụ Viện trưởng để về Huế, danh sách các sinh viên c̣n thiếu tiền khá dài. Linh mục đă bảo pḥng kế toán xé bỏ đi, trước khi bàn giao sổ sách lại cho người kế nhiệm[30].
TTheo thiển ư người viết, việc chi tiêu ban đầu không có nguyên tắc nào cả chỉ có thể thực hiện được khi sĩ số không nhiều và không bị lơi dụng, nhưng khi VDH trở nên đông hơn, th́ mọi vấn đề quản trị tài chính cần có những tiêu chuẩn đàng hoàng để điều hành
Ngoài ra không có nguồn tài trợ nào khác. Tiền của cơ sở kinh doanh như Thương xá Tax, Thương xá Da Kao… được dùng để duy tŕ sửa sang cơ sở hạ tầng của Viện.
Hội Đại Học Đà Lạt do TGM Ngô Đ́nh Thục điều khiển chuẩn chi mỗi khi cần, chứ không qua hệ thống Giáo Hội. Hội có ông Phạm Quang Lộc làm Chưởng Khế, một người miền Nam không Công giáo. Sau biến cố 1/11/1963, không ai biết tin tức về ông và việc quản lư của Hội được trao cho GS Trần Long.
b. Đă có lúc Linh mục Nguyễn Văn Thạnh, quản lư Ṭa Giám Mục Sàig̣n, thành lập ngân hàng. Muốn thành lập ngân hàng, linh mục phải kê khai tài sản hiện có. Linh mục Thạnh đă khai chung tiền mặt và tài sản của Ṭa Giám Mục Sài G̣n và Hội Đại Học Đà Lạt. Lúc đó, GS Vũ Quốc Thúc vừa là thành viên Uỷ Ban Cứu Xét vừa là Giáo sư của Viện. V́ thế Giáo sư hỏi và khuyến cáo Linh mục Viện Trưởng là nếu để Linh mục Thạnh làm như vậy, sau này Viện sẽ không nhận được tài trợ của các nơi khác nữa, v́ Viện đă trở nên giàu sang v́ có ngân hàng.
Linh mục Viện trưởng tŕnh lại sự việc này với Giám mục Nguyễn Văn B́nh, nhưng Linh mục Thạnh vẫn cứ làm. Từ khi ấy Linh mục Viện Trưởng thấy không có quyền về việc này và v́ thế không biết t́nh h́nh hoạt động của ngân hàng ra sao, kể cả các cơ sở Xuân Thu, Tax, Caravelle, …. Linh mục chỉ nhận được tiền xây dựng cơ bản, chứ không phải tiền chi dụng cho sinh hoạt hằng ngày của Viện. Ngay đến lương bổng của các nhân viên giảng huấn được thanh toán thế nào, ngài không biết đầy đủ, nhưng không thấy ai than phềin điều ǵ [31]
c. Theo LM Viện Trưởng tiết lộ cho người viết [32], trước khi cha đi Pháp năm 1980. Theo đó, ít tháng trước biến cố 30/4/1975, GS Trần Long làm Tổng Quản Lư có yêu cầu với LM Viện Trưởng là được hoàn toàn đứng tên một ḿnh, chứ không phải hai người, trên các chứng từ hành chánh và tài chánh. Dó là thông lệ vẫn áp dụng cho những chữ kư quan trọng (chi tiêu, thu nhập) trên các chứng từ hành chính và tài chính của Hội Đại Học Đà Lạt, theo luật pháp chung của quốc gia cũng như quốc tế đối với người đại diện một Hiệp Hội có pháp nhân. Lư do GS Trần Long nêu ra là uy tín cụ thể của GS ở cương vị một Tổng Quản Lư của Hội Đại Học Đà Lạt trong Giáo Hội Công Giáo. Nếu không, trong bối cảnh đang diễn ra ở miền Nam (VNCH), GS không thể làm việc được. LM VT đứng trước nhiều áp lực do t́nh h́nh, trong đó có việc Linh Mục Nguyễn Hữu Trọng xin nghỉ hưu, đă nhượng bộ.
Sau 30/4/1975, một hôm, LM Lê Văn Lư nói với người viết là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có hỏi ngài về t́nh h́nh các bất động sản và tài khoản của Hội Đại Học Đà Lạt hiện ra sao, th́ ngài trả lời là bất động sản và tài khoản (tiền mặt, ngân chi phiếu, chứng thư, chứng từ tài chánh…) đều do nhà nước mới quản lư và phong tỏa các trương mục có thể kiểm soát được.
Như vậy số phận các tài sản - nhất là ngân quỹ chung của Giáo Hội do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam quản nhiệm cao nhất - trong các trương mục ở trong nước hay ở nước ngoài mang danh nghĩa Hội Đại Học Đà Lạt như thế nào khi Cộng Sản chiếm toàn miền Nam từ ngay trước và sau 30/4/1975 đến nay?
3. Các Tài Sản Của Hội.
Thực sự về sau, v́ nhiều nguyên nhân phức tạp khác nhau, Hội Đại Học Đà Lạt chỉ c̣n sở hữu và quản lư các cơ sở ở vùng Sàig̣n và Bảo Lộc, Đà Lạt như:
Thương Xá Tax (Ô. Thái Văn Phải giám thị).
Thương Xá Đinh Tiên Hoàng Đa Kao (Ô. Âu Văn Kiệt khán thủ).
Cao Ốc Lam Sơn (Ô. Nguyễn Văn Thành làm giám thị).
Nhà sách Xuân Thu (tiếp quản từ nhà sách Portail do người Pháp trao lại. Bà Ánh Nguyệt tức Bà Trần Long làm giám đốc).
Các cơ sở trực thuộc VĐHĐL tại Sàig̣n, do LM Nguyễn Hữu Trọng, Đại Diện VT điều hành với ông Đỗ Văn Thành làm Tổng Thư Kư phụ trách gồm ba bộ phận:
Pḥng Liên Lạc (Ô. Nguyễn Hữu Phước và Ô. Đoàn Văn Gấm),
Pḥng đại diện sinh viên vụ (Ô. Dương Hiệp Nghĩa, cô Lê Ḥa Ánh), và
Ban Cao Học Trường Chánh Trị Kinh Doanh. Ngoài GS PBL làm Khoa Trưởng, có các GS Nguyễn Lâu, Pt Khoa Trưởng, GS Nguyễn Chánh Đoan, GS Nguyễn Đ́nh Quế làm GS đặc vụ, Ông Đỗ Văn Thành làm CVP, với một số nhân viên (Bà Công Tằng Tôn Nữ Thị Cảnh, Cô Phạm Thị Chính, Ông Nguyễn Tri Lương, Ông Vơ Lang, và ông Nguyễn Văn Yến)
Đồn Điền Đại Nga (cơ sở ở Lâm Đồng, trồng trà và nhiều loại cây ăn trái, do Tu Huynh Đinh Quang Trí, CSC, trông coi).
Đồn Điền Di Linh Djirato (do Tu huynh Bùi Chu Tràng, CSC, trông coi)
Ngân Hàng Tín Dụng Nông Thôn Đức Trọng (Lm Nguyễn Hữu Trọng đặc trách, dường như một thời gian có GS Lương Hữu Định làm Giám Đốc)
Ba Khu Đồi xây dựng làm cơ sở Viện Đại Học tại thị xă Đàlạt.
4. Các Nguồn Tài Trợ.
Trong quá tŕnh xây dựng và phát triển Viện Đại Học Đà Lạt, phục vụ ngày càng đông sinh viên, các quản trị viên không chỉ trông nhờ vào nguồn tài trợ giới hạn từ các cơ sở của ḿnh mà cần có tài trợ của các nguồn khác, như:
Các mục thu:
a. Nguồn thu học phí của sinh viên.
b. Trợ cấp của chính phủ Việt Nam.
Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, Nguyễn Quang Tŕnh), nhất là Viện Đại Học Sàig̣n và Trường Văn Khoa, Trường Sư Phạm, Trường Khoa Học[33] Bộ Tài Chánh (thời Viện Trưởng Lê Văn Lư)
c. Trợ cấp của chính phủ hay tổ chức kinh doanh, thiện nguyện, tôn giáo, văn hóa giáo dục. quốc tế, như:
Hội Việt Nam Viện Trợ Giáo Dục Cao Đẳng
Cơ Quan Catholic World Service, CWS
US Catholic Relief Service, CRS
World University Service, WUS.
Canada và Pháp (giúp tài trợ và cử nhiệm giáo sư sang giảng dậy tại VĐH Đà Lạt
Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation).
Phái Bộ Viện Trợ Hoa Kỳ (The USAID Mission)
Đức Phao Lô VI
Hồng Y Spellman
Khâm Sứ Ṭa Thánh
Chính GM Ngô Đ́nh Thục
Hội Đồng GMCHLBTây Đức, nhất là Ṭa Giám Mục Koln giúp 10.000 Đức Mác mua sách)
Trường Đại Học Công Giáo George Mason University (4400 University Drive, Fairfax, VA 22030) bảo trợ.
d. Trợ cấp nói chung của các tổ chức hay cá nhân ân nhân khác, …
Tất cả những nguồn tài trợ đó chi cho các mục, như:
Lương, vận phí các giáo sư và nhân viên công tác
Chi Phí Xây Cất Mới, Trang Thiết Bị, Pḥng Thí Nghiệm và Bảo Tŕ các Cơ Sở
Dự Trữ Tiếp Tân và các hoạt động an toàn xă hội tối thiểu
Học Bổng, Hoạt Động Sinh Viên
Biểu Đồ 2. Tổ Chức Tổng Quát Hội và Viện Đại Học Đà Lạt[34]
|
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam |
|||||
|
Viện Đại Học Đà Lạt |
|
Hội Đại Học Đà Lạt |
|||
|
Chưởng Ấn |
Hội Đồng Quản Trị |
||||
|
Hội Đồng Viện –VT-UBPhTr&KếH - UBHVụ |
|
Uỷ Ban Thường Trực |
|||
|
|
|
|
|
Tổng Quản Lư |
|
|
Văn Pḥng Viện |
Đại Diện VT/Sàig̣n |
Cơ Sở Kinh Doanh |
|||
|
1.GĐ/ĐHX(TVKư,Kiêm Ái,Bminh) |
1.Văn Pḥng Liên Lạc |
1.Thương Xá Tax |
|||
|
2.GĐ/Sinh Viên Vụ |
2.TrCTKD/Ban Cao Hoc |
2.Cao Ốc Lam Sơn |
|||
|
3.TU/Tuyên Úy Vụ |
3.VP Dại Diện Sinh Viên |
3.Thương Xá ĐTHoàng |
|||
|
4.GĐ/Tu Thư & Báo Chí |
|
5.Thư Quán Xuân Thu |
|||
|
5.GĐ/Thư Viện |
6.Đồn Điền Đại Nga |
||||
|
6.QL/Pḥng Quản Lư |
7.Đồn Điền Di Linh |
||||
|
7.KT/TrCTKDoanh/Ban Cử Nhân |
8.Ngân Hàng NT Đức Trọng |
||||
|
8.KT/TrĐH Khoa Học |
|
||||
|
9.KT/TrĐH Sư Phạm |
|||||
|
10.KT/TrĐH Văn Khoa |
|||||
|
11.KT/TrĐH Thần Học |
|||||
|
TC: (11) bộ phận |
(3) bộ phận |
(8) bộ phận |
|||
|
Chú thích: Biểu đồ này cho thấy tương quan giữa các bộ phận của Hội Và Viện Đại Học Đà Lạt |
|||||
5.Cơ Sở Viện Đại Học tại Đà Lạt.
Cơ sở bất động sản khu đồi chính dùng để xây dựng, phát triển tiện nghi sinh hoạt quản trị, giảng huấn, cư trú của Viện Đại Học Đà Lạt được tiếp quản từ cơ sở cũ của Trường Thiếu Sinh Quân do người Pháp để lại.
Nhưng người Pháp đă chuyển đổi mục đích xử dụng. Như lời xác nhận của chính Linh mục Nguyễn Văn Lập do Vũ Sinh Hiên ghi thuật[35]:
“Về cơ sở, Viện Đại Học Đà Lạt vốn là trung tâm an dưỡng của sĩ quan Pháp có tên là Camp Robert. Bộ Tài Chánnh Chính Phủ Việt Nam lúc bấy giờ đă bán lại cho các Giám mục với giá hai triệu đồng, giấy tờ bằng khoán đầy đủ, do Đức Cha Ngô Đ́nh Thục đứng tên. Tôi gửi giấy tờ ở Ṭa Khâm Sứ và chỉ giữ một bản sao ở Viện Đại Học.
Camp Robert có hai khu , một ở gần thành phố Đà Lạt, bên bờ hồ, phía trường Yersin, một ở phía trong rừng xa thành phố, rộng 40 ha với 40 ngôi nhà lớn nhỏ. Các Đức Giám Mục đă mua khu thứ hai này, gia công tu sửa những ngôi nhà trong trong khuôn viên, xây nhà nguyện ở độ cao 1500m, chung quanh có pḥng ốc dành cho các giáo sư cư ngụ và một pḥng học rât yên tĩnh. Cùng với việc chỉnh trang là viêc đặt tên cho những ngôi nhà, những con đường trong khuôn viên Viện: Nguyện đường Năng Tĩnh, nhà Đôn Hóa (văn pḥng Viện), Ṭa Viện Trưởng Ḥa Lạc, đường Tiền Giang (tư cổng dẫn đến Nhà thờ), đường Hậu Giang (tư cổng xuống kư túc xá sinh viên), các giảng đường Minh Thánh, Đạt Nhân, Tri Nhất, Thượng Hiền, Hội Hữu.”
Ngay thời điểm trước 30/4/1975, bất động sản này gồm có ba Khu:
Khu A: Khu đồi chính ở đường Phù Đổng Thiên Vương cuối Đồi Cù phía Tây thành phố Đà Lạt; Diện tích chừng 40 ha, cách Trung Tâm Thành phố Đàlạt 1 km 5 Khuôn viên Đại Học Đà Lạt Khu A khởi đầu chỉ có chừng hơn mười ṭa nhà, với các đường đi lối lại được trải đá dăm.
Khu B: Khu đồi Minh Ḥa, nơi lúc đó có cư xá sinh viên Rạng Đông và Chủng viện Minh Ḥa thuộc GP Đà Lạt, ở đường Thông Thiên Học.
Khu C: Khu C ở đường Vạn Kiếp và đường Trần Hưng Đạo có chừng 38 biệt thự sẵn sàng dùng làm Cư Xá Nhân Viên Giảng Huấn[36].
Cả ba khu đang có kế hoạch mở mang theo đúng chức năng được hoạch định. Chính Linh Mục Viện Trưởng, ủy nhiệm cho GS phụ tá hành chánh vai tṛ chuẩn bị với sự trợ giúp của Ṭa Tỉnh Trưởng Đà Lạt, thu xếp một chuyến máy bay trực thăng từ Nha Trang lên, và đă bay ở cao độ 300 m để chuyên viên nhiếp ảnh (nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngà của Photo Hồng Châu, Khu Chợ Ḥa B́nh Đà Lạt) có thể chụp các không ảnh cả ba khu ABC của Viện Đại Học Đà Lạt. Chính nhờ những không ảnh này mà các chuyên viên kỹ thuật tùng sự tại Trường Chiến tranh chính trị Đà lạt có thể giúp thiết lập một mô h́nh (sa bàn) thu nhỏ toàn bộ Khu A của Viện Đại Học Đà Lạt. Mô h́nh này cũng được dùng để triển lăm tại Trung Tâm Công giáo ở số 72/12 Đường Nguyễn Đ́nh Chiểu Tân Định Sàig̣n nhân kỷ niệm 350 năm truyền giáo ở Việt Nam vào thời điểm 1972 trước khi được trưng bày ở Trung Tâm Sinh Viên VĐH Đà Lạt.
Các bất động sản thuộc cả ba khu A, B và C nói trên, theo người viết được biết, đă được Đại Diện của HĐGMVN cho nhà nước mới mượn theo một hợp đồng được kư kết sau 30/4/1975, giữa đại diện hai phía Giáo Hội và Nhà Nước Việt Nam.
6. Cảnh Quan Khuôn Viên Viện Đại Học
Nói đến Viện Đại Học Đà Lạt mà không nói đến cảnh quan tuyệt diệu yêu kiều, đầy mộng mơ, là một thiếu xót khó chấp nhận, như chưa biết ngỏ lời khen tặng một bông hồng đẹp đẽ duyên dáng trong ḍng đời thanh xuân. Thay cho một mô tả khô khan, thiết tưởng nên dơi theo ḍng suối ấn tượng của những đôi mắt nam nữ sinh viên ghi lại những cảm nhận rất chân thành hồn nhiên của ḿnh:
“ Sau buổi cơm chiều, tôi thường đi dạo sân trường, thơ thẩn thưởng thức Khung Trời Đại Học, nhớ lời một vị Giáo Sư: “Viện Đại Học Đà Lạt là một trường đại học đẹp nhất Đông Nam Á, dù quy mô không phải là lớn nhất.”…”Nét đẹp thơ mộng lăng mạng, và rất thiên nhiên. Từng con đường ngọn cỏ in dấu bước chân học tṛ, in dấu trong kư ức tôi cho đến hôm nay và có lẽ măi măi…
Con dốc Kiêm Ái đây, nhưng sao không đưa tôi về những dăy pḥng trọ, nơi tôi có nhiều niềm buồn vui với bạn bè, với tiếng cười rộn ră vô tư, với những đêm thức học bài, xúm nhau nấu ḿ gói ăn khuya. Nhớ nhiều buổi trốn học, tôi đi phố mua dâu tây, về học xá lặt rửa sạch sẽ, trộn đường cho lên men thành rượu, dành khi về Sàig̣n tặng Má…”[37]
Hay
“Viện Đại Học Đà Lạt rộng, cổ kính và quí phái, bốn mùa thắm sắc những loài hoa, Mùa Đông hoa anh đà nhuộm hồng phố xá, trên những lối nhỏ dẫn đến giảng đường, dọc bờ Hồ Xuân Hương, thắm thềm bướm trắng…”[38]
Nhưng có những bạn nam sinh viên biểu tả vẻ đẹp của Viện Đại Học Đà Lạt dưới ng̣i bút “hoa không thua thắm, liễu hờn kém xanh!” thế này:
“Phong trào sinh viên học sinh băi khóa biểu t́nh chống chính quyền dữ quá, nên tôi quyết định về quê và xin phép gia đ́nh đi học trường Chánh Trị Kinh Doanh. Đây là quyết định quan trọng đầu đời của tôi, may sao lại là quyết định hoàn toàn đúng. Trường Chánh Trị Kinh Doanh có cuốn hút diệu ḱ bao hoài băo và ước mơ bay bổng của tôi.”
“Hơn nữa Đà Lạt là thành phố đẹp nhất mà tôi từng được biết. V́ vậy bốn năm học ở Đà Lạt là thời tuổi trẻ tươi đẹp mà tôi chẳng thể nào quên. Buổi sáng tinh sương đi học, ḥa vào ḍng người bước chân đến trường mới tuyệt làm sao. Con dốc dưới chân đồi leo lên cổng viện, một bên có hàng mimosa nở hoa trắng xóa, từ nhóm bạn bè đi bên nhau nói cười vui vẻ, mưa bụi li ti bám trên tóc, trên vai, trên mặt các bạn nữ má đỏ môi hồng, nên thơ và đẹp đẽ làm sao… Ở trường CTKD có những môn học hồi đó đối với tôi hay đến lạ: “điển cứu”, “tu từ văn thể”, “quảng cáo, tiếp thị”, “xác xuất thống kê”, v.v…”[39]
Biểu Đồ 3: Tổ Chức Thực Tế Viện Đại Học
|
|
Viện Đại Học Đà Lạt |
|
|||||||
|
|
Chưởng Ấn |
|
|||||||
|
|
Viện Trưởng |
|
|||||||
|
|
Hội Đồng Viện |
|
|||||||
|
Uỷ Ban Hành Chánh & Kế Toán |
Uỷ Ban Học Vụ & Hội Đồng Kỷ Luật |
||||||||
|
|
|||||||||
|
Khối Hành Chánh |
Khối Tâm Linh |
Khối Học Vụ |
Khối Phục Vụ |
||||||
|
Văn Pḥng Viện |
Nhà Nguyện |
Thư Viện |
Pḥng Quản Lư |
||||||
|
Tại Đà Lạt |
Pḥng Liên Lạc tại Saigon |
||||||||
|
|
Tuyên Úy Vụ |
Tu Thư & Báo Chí |
Nhà Khách |
||||||
|
Sinh Viên Công Giáo |
Tri Thức |
Thụ Nhân |
SIVIDA |
||||||
|
|
|
Sư Phạm |
Sinh Viên vụ |
||||||
|
Tại Đàlạt |
Pḥng Đại Diện/Sàig̣n |
||||||||
|
|
|
Văn Khoa |
Đại Học Xá |
||||||
|
B́nh Minh |
Kiêm Ái |
Trương VĩnhKư |
|||||||
|
|
|
Khoa Học |
Pḥng Y Tế |
||||||
|
|
|
Chánh Trị Kinh Doanh |
Nhà Bếp Viện Trưởng |
||||||
|
Ban Cử Nhân (Đà Lạt) |
Ban Cao Học (Sàig̣n) |
||||||||
|
|
|
Thần Học |
|
||||||
Biểu đồ trên đây phản ảnh tổ chức và sinh hoạt thực tế của Viện Đại học Đà Lạt và được mô tả theo các khía cạnh hoạt động chức năng của mỗi đơn vị trong Viện.
Nói về tổ chức, Linh Mục Nguyễn Văn Lập xác định:
“Về tổ chức của Viện Đại Học Đà Lạt, chúng tôi có một Chưởng Ấn, một chức vị chỉ có ở Viện Đại Học Công giáo. Đây phải là một nhân vật có kinh nghiệm, uy tín, thường là một vị Giám mục, được suy tôn lên làm Chưởng Ấn.”[40]
Ngài c̣n nhớ vị Chưởng Ấn đầu tiên là Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, sau là Giám Mục Trần Văn Thiện và kế tiếp là Giám mục Nguyễn Ngọc Quang.
2. Các Chưởng Ấn.
Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, Chưởng Ấn Tiên Khởi Viện Đại Học Đà Lạt
HĐGMVN khởi đầu xây dựng Viện Đại Học Đà Lạt, với thúc đẩy tích cực của GM niên trưởng Ngô Đ́nh Thục[41]. Theo truyền thống các Viện Đại Học Công Giáo Quốc Tế, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhất trí cử một vị Chưởng Ấn[42].
Vị Chưởng Ấn đó sẽ cử một người quản trị. Vị Chưởng Ấn kiêm nhiệm Viện Trưởng đại học đầu tiên vận động cho sáng kiến thiết lập Hội Đại Học Đà Lạt là chính GM Phêrô Martinô Ngô Đ́nh Thục, khi đó c̣n làm Giám Mục quản trị Địa Phận Vĩnh Long. Với tính cách niên trưởng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và là người anh ruột của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu. Giám Mục có một vị thế có nhiều ảnh hưởng trong xă hội và giáo hội thời đó.
Giám Mục Trần Văn Thiện, Chưởng Ấn Thừ Hai VĐHĐL (1963-1970)
Năm 1963, TGM Ngô Đinh Thục đi dự Công Đồng Vatican II rồi kẹt v́ chính biến ngày 1-2/11/1963 không về được[43], nên HĐGMVN bầu ngay Vị Chưởng Ấn kế tiếp là chính GM Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho. Linh mục Trần Văn Thiện không làm Viện Trưởng tiên khởi[44], mà chỉ Giám Đốc Kư Túc Xá Sinh Viên nhưng v́ Viện Trưởng không thường xuyên có mặt ở Đà Lạt, nên thực tế đảm nhiệm mọi trách vụ của Viện Đại Học và do vậy, nhiều người đă lầm tưởng ngài là Viện Trưởng[45]. V́ thế GM Trần Văn Thiện làm Chưởng Ấn thứ hai kế tiếp sau TGM Ngô Đ́nh Thục.
Giám Mục Chưởng Ấn Thứ Ba Giacobê Nguyễn Ngọc Quang
Đến năm 1970, th́ HĐGMVN bầu GM Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang[46], GP Cần Thơ (1965-1990) làm Chưởng Ấn thứ ba và cuối cùng cho đến 30/4/1975.
3. Các Viện Trưởng
Viện Trưởng đầu tiên là chính là Giám Mục Ngô Đ́nh Thục (1957-1961). Khi LM Trần Văn Thiện làm Giám Mục năm 1961, th́ Lm Simon Nguyễn Văn Lập, Cử Nhân Sử Địa (Sorbonne, Paris), cũng được bổ nhiệm làm Viện Trưởng[47] (1961-1970).
Giám Mục Viện Trưởng Thứ Nhất Ngô Đ́nh Thục.
Nhiệm vụ Viện Trưởng đầu tiên chính là xây dựng, tổ chức và quản trị giai đoạn h́nh thành Viện Đại Học Đà Lạt. Mấy lănh vực quan trọng nhất là quản trị ban đầu, tồ chức kỹ thuật, và xây dựng cơ sở học thuật, tiếp nhận và sử dụng viện trợ. Sau cùng là tính chất công ích của Hội Đại Học Đà Lạt.
T́nh H́nh Quản Trị Ban Đầu. Bộ Quốc Gia Giáo Dục đă biệt phái một số nhân sự chuyên biệt có nhiệm vụ điều hành những công việc về hành chánh quản trị. Các chuyên gia này đều nhận tiền lương từ Bộ Giáo Dục và họ chỉ nhận thù lao chức vụ của Viện. Như vậy làm nhẹ bớt gánh năng chi phí ban đầu.
Kỹ Thuật..Trường Văn Khoa tiếp nhận một số linh mục giáo sư đang giữ nhiều trọng trách tại Sàig̣n lên giảng dậy tại Đà Lạt. Trường Sư Phạm và Khoa Học cũng được nhiều giáo sư từ các phân khoa Sàig̣n lên như vậy
Học Vấn. Việc học vấn của sinh viên đă diễn ra chật vật như những số liệu thống kê dưới đây chứng minh. Việc tổ chức các môn học của Trường Văn Khoa và Sư Phạm theo chế độ học vấn không giống nhau.
Trong khi Sư Phạm có xu hướng áp dụng Niên Chế th́, Văn Khoa có xu hướng theo Chứng Chỉ. Riêng Khoa học th́ được tổ chức theo Giáo tŕnh. Đặc biệt là ở Khoa này, hai năm đầu tiên có khóa đào tạo kỹ thuật. Các kỳ thi cuối năm của mỗi Phân Khoa cũng được chia nhỏ cho từng lớp học, dù theo chế độ học vấn nào. Sau ba năm học, khóa đầu tiên tốt nghiệp. V́ thế Viện Đại Học đă phải làm tờ phúc tŕnh tổng thế này lên chính phủ (Bộ Giáo Dục) để có thể đề xuất hướng cải tiến các phương diện cần bổ sung trong giai đoạn tiếp theo và được trợ giúp của chính phủ.
Biểu đồ 4. Tổ chức giảng dậy, sĩ số và kết quả bốn năm đầu (1957-1961)[48]
|
Năm Học 1957-58 |
||||
|
Phân Khoa |
Môn Học |
Thí Sinh |
Tốt nghiệp |
Chú thích |
|
Sư Phạm |
Khoa Học Kỹ thuật Năm I |
85 |
49 |
Khóa năm 1 dự bị khoa học, đào tạo kỹ thuật[49] |
|
Năm Học 1958-59 |
||||
|
|
Khoa Học Kỹ Thuật Năm II |
56 |
13 |
|
|
|
||||
|
Sư Phạm |
Triết Năm I |
27 |
27 |
Có các lớp cho học viên chưa tốt nghiệp trung học, trau giồi thêm và lớp sư phạm giáo lư |
|
|
Pháp Văn Năm I |
22 |
22 |
|
|
|
|
49 |
49 |
|
|
Năm Học 1959-60 |
||||
|
Sư Phạm |
Triết Năm I |
30 |
29 |
Ngoài phần chuyên môn về sư phạm, các sinh viên cũng ghi danh học phần nội dung kiến thức của ngành chuyên môn ở các khoa khác |
|
|
Triết Năm II |
27 |
25 |
|
|
|
|
57 |
54 |
|
|
Văn Khoa |
Dự Bị |
28 |
11 |
|
|
|
C/c Văn Chương Pháp |
03 |
00 |
|
|
|
C/c Đạo đức và Xă Hội Học |
10 |
02 |
|
|
|
|
41 |
67 |
|
|
Khoa Học |
Toán Học Đại Cương |
37 |
16 |
|
|
|
|
37 |
16 |
|
|
Năm Học 1960-61 |
||||
|
Sư Phạm |
Triết Năm I |
25 |
21 |
Tổng số sinh viên tốt nghiệp sau ba năm học là 143 so với sĩ số ghi danh là 160. Một tỷ lệ rất cao |
|
|
Triết Năm II |
32 |
29 |
|
|
|
Triết Năm III |
24 |
24 |
|
|
|
Pháp Năm I |
34 |
30 |
|
|
|
Pháp Năm II |
28 |
21 |
|
|
|
Pháp Năm III |
20 |
18 |
|
|
|
|
160 |
143 |
|
|
Văn Khoa |
Dự Bị |
43 |
18 |
|
|
|
Văn Chương Pháp |
04 |
01 |
|
|
|
Đạo Đức và Xă Hội Học |
14 |
03 |
|
|
|
Tâm Lư |
13 |
03 |
|
|
|
|
74 |
25 |
|
|
Khoa Học |
Toán Học Đại Cương |
45 |
06 |
|
|
|
Toán Lư Hóa |
34 |
06 |
|
|
|
|
79 |
12 |
|
LM Viện Trưởng Thứ Hai Nguyễn Văn Lập.
Ngài đảm lănh trách nhiệm viện trưởng trong thời gian lâu dài nhất trong các nhiệm vụ ngài gánh vác từ trước, kể cả thời gian sau này ngài trở về giáo phận Huế làm Chủ tịch Hội Đồng Linh Mục và làm Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế (1970-75)
Thời ngài, Văn Pḥng Viện Trưởng được tổ chức gọn nhẹ, có tính gia đ́nh và tiết giảm nhiếu chi phí. Ngài có một vị phụ tá Viện trưởng , lúc đầu là Linh mục Nguyễn Ḥa Nhă, kế đến là Linh mục Ngô Duy Linh sau khi Linh mục này rời chức vụ Giám Đốc Nhạc Viện Huế (1963) và đặc trách kư túc xá sinh viên.
Tại Văn Pḥng có ông Trần Quang Diệu, người của Bộ Giáo Dục biệt phái sang, ông Đỗ La Lam và một số thư kư
Trong nhiệm vụ Viện trưởng, nhiều người chú ư đến quan hệ của ngài
1. Quan hệ với gia đ́nh họ Ngô
Trước khi làm Viện Trưởng qua những vai tṛ ở nhiều nhiệm vụ và quan hệ khác nhau. Trước khi nhận trách nhiệm Viện trưởng, Viện Đại Học đă hoạt động được ba niên khóa, đă có LM Lê Văn Lư làm Phó Viện Trưởng, kiêm Khoa Trưởng Văn Khoa, và LM Hoàng Quốc Trương làm Khoa Trưởng Khoa Học và Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm làm Khoa Trưởng Sư Phạm.. Khi LM về làm Viện Trưởng th́ các lớp sư phạm Triết được trả về cho Đại Học Sư Phạm Sàig̣n, nhưng vẫn duy tŕ môn triết ở Trường Văn Khoa.
Linh Mục NVL quen biết rất nhiểu người ở các địa phương và các chức vụ khác nhau, nhưng không v́ ư đồ chính trị gắn bó với bất kỳ ai. Đối với gia đ́nh họ Ngô, Linh mục được mọi người quí mến về t́nh cảm, nhưng không can dự vào công việc của các ông Diệm, Nhu và Cẩn. Không bao giờ Linh mục để ông Diệm vào Viện Đại Học Đà Lạt
Theo Linh mục kể lại, [Có một lần duy nhất ông nói với tôi:
“Cha về nói với ông thị trưởng Đà Lạt – khi đó là ông Trần Văn Phước – là khi nào tiện, tôi lên Đà Lạt, ông thị trưởng sắp xếp chương tŕnh sao tôi có dịp vào thăm Viện của cha”.
Tôi nói: “Thưa cụ, c̣n nhiều nơi cần được cụ đến thăm viếng, cụ không cần phải đến Viện tôi. Viện tôi, cụ để tôi liệu.”
Có lần Tổng Thống tới, tôi ra ng̣ai cổng đón ngài, ngay chỗ sân Cù, nói chuyện một chập rồi Tổng Thống đi.]
Ông Ngô Đ́nh Nhu yêu cầu tới Viện nói chuyện với sinh viên về Ấp Chiến Lược, nhưng Linh mục trả lời:
“Ông cố vấn nên đi nói chuyện ỡ những nơi khác cần hơn, “Áp Chiến Lược” của tôi để tôi liệu lấy”.
Trong lần làm việc thứ sáu ngày 12/12/2000 với LM NVL tại Tu Hội Bác Ái B́nh Triệu của Nhóm Vũ Sinh Hiên, Linh mục tâm sự về nhà Ngô:
“Theo tôi, anh em nhà Ngô bị hiều lầm. Ông Nhu có thể khác, nhưng Đức Cha và Ông Diệm là người tốt. Chỉ v́ tin cậy mọi người đến với ḿnh, rồi sa lầy lúc nào không hay.”
Rồi trong buổi làm việc tiếp theo, ngày 4/1/2001, Linh mục lại phát biểu về ông Diệm:
“Đối với ông Diệm, tôi nghĩ bản thân ông là người rất tốt, rất tin người. Khi xảy ra cuộc đảo chính 1963, tôi vẫn b́nh tĩnh và không hề có ǵ xảy ra cho tôi, cho Viện Đại Học. Tôi cũng không phải thay đổi ǵ trong Viện.
Ông Diệm có một người cháu là nữ tu Trương Thị Lư t́m được trong túi áo ngực của ông một tràng chuỗi.Có lần ông bảo Vơ Văn Hải mua cho ông cuốn lịch có ngày Tây ngày Ta và các ngày lễ Công giáo. Ông Hải t́m không ra. Ngày nay loại lịch này khá nhiều, nhưng hồi đó th́ chưa. Những người chung quanh ông Diệm làm hư ông. Ông quá tốt.”
Linh mục c̣n kể cho Nhóm Vũ sinh Hiên
“nghe rằng năm 1960, khi GM Ngô Đ́nh Thục về nhận giáo phận Huế, có ư kiến đề cử ông Ngô Đ́nh Nhu ra dự lễ thay mặt chính quyền trung ương. Ông Ngô Đ́nh Diệm phản đối. Ông Tôn Thất Trạch phải dung đường dây điện thoại riêng, nhờ cha Lập tŕnh với ông Diệm cử Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ ra dự. Không ai dám và đủ uy tín bằng cha Lập để tŕnh điều này với Tổng Thống, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă chấp thuận.”
Ngài là Viện Trưởng sáng lập Trường Chính Trị Kinh Doanh năm 1964, kiện toàn các cơ cấu phân bố và tuyển mộ nhân sự vào các chức vụ then chốt. Từ năm 1970, linh mục đă từ chối thỉnh ư của Ṭa Thánh muốn tiến cử ngài làm GM Đà Lạt v́ lư do tuổi tác, sau khi GM Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền từ trần (25/9/1973). Ngài có nguyện vọng trở về phục vụ tại Giáo Phận Huế.
2. Quan hệ với tướng lănh khác
.
Khi chế độ đệ nhất công ḥa bị lật đổ, các tướng lănh vẫn trọng nế linh mục Nguyễn Văn Lập. Có lần tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II, đă cho máy bay chở “sinh viên lính” về dự lễ măn khóa. Tướng Tôn Thất Đính thường nhờ Linh mục tŕnh bày một số vấn đề với TGM Nguyễn Văn B́nh, nhưng linh mục không làm. Tướng Trần Văn Đôn thỉnh thoảng có đến thăm linh mục, và có đến tham dự khóa hội thảo về “Mục Tiêu quốc gia” do VDHDL tổ chức dưới sự bảo trợ của các Viện Đại Học ngày 24-26/7/1967. Linh mục không quen biết với tươớg Dương Văn Minh, có quan hệ với cụ Phan Khăc Sửu, nhưng không quen cụ Trần Văn Hương
3. Nhiệm vụ Viện Trưởng
Ngài quan niệm phải tổ chức Viện Đại Học Đà Lạt cho có thực chất với một phong cách Việt nam. Có người đề nghị gọi VDLDL là Đại Học Công Giáo. Ngài từ chối, mọi người Công giáo có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng bằng cuộc sống tốt, làm gương tốt. Ngài yêu cầu các nam tu sĩ đều mặc thường phục tránh hiều lầm các sinh viên đạo được chấm đậu hết, khác với sinh viên đời.
Khi người Mỹ có ư đề nghị có cố vấn đến giúp đại học, th́ ngài không cần, v́ nghĩ rằng khi các giám mục chọn ngài làm viện trưởng th́ ngài đủ khả năng và đức độ xây dựng Viện đại học này theo tinh thần Việt Nam.
Sự thực là trong lần tham quan Hoa Kỳ với bốn Viện trưởng khác là GS Trần Quang Đệ, Viện Trưởng VĐH Sàig̣n, GS Nguyễn Thế Anh, Viện Trưởng VĐH Huế, GS Phạm Hoàng Hộ, Viện Trưởng VĐH Cần Thơ, Thượng Tọa Thích Minh Châu, VĐH Vạn Hạnh, th́ Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, Philip Habib, từng phục vụ lâu năm ở Việt Nam, đă tuyên bố chỉ có VĐH Đà Lạt mới là một Viện Đại Học thật sự.
Ngài tỏ ra ngại ngùng v́ lời tuyên bố này, nhưng GS Trần Quang Đệ quay sang nói với Linh mục Nguyễn Văn Lập:
“Cụ đừng ngại, tôi cũng đồng ư với nhận xét này. Bởi như tôi đây, có mấy khi dành đủ tám giờ một ngày cho công việc của Viện Đại Học Sài G̣n đâu. Những gặp gỡ, những giao tế hằng ngày cũng chiếm mất nhiều thời giờ. C̣n cụ, 24/24 giờ, cụ sống chết với VĐH Đà Lạt, cụ xứng đáng được đánh giá như vậy
Trong suốt chín năm trời LM Nguyễn Văn Lập thực tế là vị Viện Trưởng xây dựng truyển thống của Viện Đại Học[50].
Chẳng hạn khi LM đến Mỹ, cùng với nhiều vị Viện Trưởng Việt Nam khác, LM được mời vào Ṭa Bạch Ốc, LM được biếu một quyển Chỉ Dẫn in thật đẹp và thật đầy đủ, giúp LM có thể đi bất cứ chỗ nào ở nước Mỹ, mà không sợ bị lạc. Rồi LM đề nghị Hội Sử Địa có thể soạn cho Viện một cuốn Địa Phương Chí (Monography) về Đà Lạt, trong đó có phần về Lịch Sử, Địa Lư H́nh Thể, Nhân Văn, Kinh Tế, và phần Chỉ Dẫn Du Lịch thật chi tiết, để biếu cho các vị khách đến Viện. Khi tác phẩm này hoàn thành vào đầu năm 1970, lúc đó LM Lập sắp rời Viện. LM bảo ngài không c̣n nhiều thời giờ để xuất bản và đă để lại cho vị Viện Trưởng kế nhiệm tùy nghi sử dụng. Sau này, không thấy Viện xuất bản, Phạm Văn Lưu gởi phần Lịch Sử cho Tập San Sử Địa của Trường Đại Học Sư Phạm Sài G̣n đăng tải[51]
Kỷ Niệm Mười Năm thành lập Viện Đại Học. Ngài đă tổ chức lễ kỷ niệm mười năm thành lập Viện Đại Học Đà Lạt vào năm 1969 (1959-1969). Người ta tổng kết trong mười năm Linh mục Viện trưởng Nguyễn Văn Lập đă làm ǵ, được tŕnh bày trong các mục riêng biệt trong cơ cấu của Viện.
Trong viện lúc đó, ngoài cơ cấu nhân sự của Viện với văn pḥng Viện Trưởng như đă tŕnh bày, c̣n có Hợp Tác Xă sinh viên SIVIDA do GS Trần Long tổ chức để ấn hành và dịch các tài liệu. Viện có khoảng 3000 sinh viên mà quá nửa là sinh viên CTKD. Họ tổ chức thành Tổng Hội Sinh viên.
Như một công tŕnh giáo dục có hiệu quả tác dụng truyền giáo lớn lao, năm 1969, Đức Phaolô VI gửi lời chúc mừng đến ngài và toàn thể các thành viên của Viện Đại Học Đà Lạt rất ưu ái của Toà Thánh. Nguyên văn bằng tiếng Pháp, kèm theo bản dịch tạm thời bằng tiếng Việt như sau:
Cher Fils, le Révérend Père Nguyên
Van Lâp,
Recteur Magnifique de l’Université Catholique de Dalat
Au moment où va être célébré le dixième anniversaire de l’Université catholique de Dalat, Nous sommes heureux de Nous associer aux Evêques protecteurs, aux autorités civiles et académiques et à tous les membres de l’Université, pour féliciter tous ceux qui ont courageusement contribué à son développement. De grand cœur, Nous formons le voeu que cette jeune Université poursuive le service culturel et moral si appréciable qu’elle rend aux familles vietnamiennes et à tout le pays, en préparant notamment des maîtres et des cadres compétents, en même temps qu’elle aide les jeunes chrétiens à approfondir leur foi et à témoigner activement de leur charité.
En priant le Seigneur de favoriser cette œuvre éducative dans un avenir paisible, Nous implorons sur tous les assistants, et spécialement sur le Recteur, les professeurs et les élèves de l’Université de Dalat, en témoignage de Notre affectueuse bienveillance, l’abondance des bénédictions divines.
Du Vatican, le 6 janvier 1969.
PAULUS PP. VI[52]
***********
Con thân yêu, Cha Nguyễn Văn Lập trọng kính,
Viện Trưởng Huy Hoàng của Viện Đại Học Công giáo Đà Lạt
Vào lúc Viện Đại Học Công Giáo Đà Lạt sắp cử hành lễ kỷ niệm thứ mười, Ta sung sướng cùng liên kết với các Giám Mục bảo trợ, các nhà chức trách dân sự và hàn lâm và tất cả các thành viên của Viện Đại Học, ngơ hầu khen ngợi tất cả những ai đă can đảm đóng góp vào sự phát triển Viện Đại Học. Từ thâm tâm, Ta nguyện chúc Viện Đại Học trẻ trung này theo đuổi công cuộc phục vụ văn hóa và đạo đức rất đáng trân trọng mà Viện Đại Học đă đem lại cho các gia đ́nh Việt Nam và cho cả nước. Nhất là bằng cách chuẩn bị các thầy dậy và các cán bộ xứng đáng, Viện đồng thời cũng giúp đỡ các thanh niên Kitô hữu sống đức tin sâu xa hơn và chứng tỏ ḷng bác ái tích cực hơn.
Xin Chúa đoái thương công cuộc giáo dục này trong một tương lai an b́nh. Với tấm ḷng nhân hậu tŕu mến, Ta khẩn cầu Thiên Chúa xuống dồi dào ơn lành cho tất cả những người giúp tay vào, và nhất là cho cha Viện Trưởng, các giáo sư, và các sinh viên của Viện Đại Học Đà Lạt.
Từ Vatican, ngày 6 tháng 1 năm 1969
Linh Mục Nguyễn Văn Lập đă củng cố nền móng vật chất và truyền thống tinh thần “trồng người” cho Viện Đại Học Đà Lạt. Trong suốt nhiệm kỳ của cha, cách ứng xử nhân bản và tài năng lănh đạo của cha đă gây ấn tượng sâu xa đối với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp.
LM Viện Trưởng Thứ Ba F.X. Lê Văn Lư.
Ngài được HĐGMVN cử nhiệm làm Viện Trưởng thứ ba và sau cùng (1970-1975). Từ ngày thành lập cho đến trước 30 tháng 04 năm 1975, Viện Đại Học Đà lạt lần lượt có năm phân khoa: Viện khai giảng thực tế từ năm 1958 với các khoa Sư Phạm, Văn Khoa với ba môn Văn Học, Triết lư và Địa Lư học, và Khoa học, về sau đến khoa Chánh Trị Kinh Doanh. Khoa Thần học th́ cũng đă có ở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X từ 1958, nhưng chưa hoàn toàn được công nhận về giáo quyền cũng như thế quyền là một phân khoa thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.[54]
Linh Mục Lê Văn Lư[55] được bổ nhiệm làm Viện Trưởng. Ngài đậu văn bằng Tiến Sĩ Văn Chương Quốc Gia do Viện Đại Học Paris (Sorbonne, Luận án chuyên khoa Ngữ Học), Pháp cấp. LM Hoàng Quốc Trương, Ph.D. in Biology, làm Phó Viện Trưởng, với GS Đỗ Hữu Nghiêm, Cao Học Sử Học, làm phụ tá hành chánh cho LM Viện Trưởng Lê Văn Lư thực sự từ năm 1972. Thời kư ban đầu, LM Nguyễn Ḥa Nhă từng giữ nhiệm vụ Phó Viện Trưởng cho LM Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập.
Nhiệm kỳ của LM Lê Văn Lư quá ngắn ngủi, nên chưa thể phát huy các sáng kiến của ngài một cách đầy đủ. Chắc chắn LM Lê Văn Lư có học vấn uyên bác và hội đủ văn bằng đại học cần thiết, và có uy tín đối với giới học giả, giáo sư và sinh viên. Nhưng ngài chỉ thi hành trách nhiệm trong thời gian ngắn ngủi, cải tiến một số lănh vực nhất định[56]. Linh mục gặp nhiều khó khăn diễn ra trong bối cảnh xáo trộn quân sự, chính trị, xă hội ở trên toàn lănh thổ quốc gia, nhất là ở phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, sau cuộc chiến Tết Mậu Thân (1968) trở về sau.
4. Tổ Chức Hội Đồng Viện và Hội Đồng Khoa.
Có thể chưa thể hiện hoàn chỉnh các văn kiện qui định chính thức, như Quyết Định thành lập, xác định Hiến chế, Nội qui điều hành và hoạt động cùng quyền hạn và trách nhiệm, giấy tờ thành văn mô tả từng chức vụ trong Viện, để kiện toàn sinh hoạt của Viện Đại Học Đà Lạt. Thực tế, có thể diễn tả mô h́nh tổ chức như sau:
a. Hội Đồng Viện.Tất cả các Khoa Trưởng hợp thành Hội Đồng Viện, do LM Viện Trưởng chủ tọa với Phó Viện Trưởng và một số nhân sự chủ chốt, như Tổng Thư Kư Viện Đại Học (vẫn không liên tục), các Phó Khoa Trưởng, Giám Đốc hay/và Phó Giám Đốc Pḥng Sinh Viên Vụ, Giám Đốc Thư Viện, Pḥng Quản Lư, Pḥng Tuyên Úy, Pḥng Cư Xá Sinh Viên, các Phụ Tá, và một số nhân sự được mời tham dự. Nói chung Viện vẫn cần bổ sung đầy đủ hơn nhiều văn kiện điều hành, bổ dụng nhiều nhân sự chủ chốt có khả năng đức độ và uy tín quản lư các bộ phận sinh hoạt trong Viện. Đó là công việc thường xuyên cho bất cứ tổ chức nào trong quá tŕnh phát triển.
Ủy Ban Hành Chánh & Kế Toán có vai tṛ Hành Ngân Kế, theo Qui chế chính thức, nghiên cứu các dự án, chiết tính các chi phí cần thiết đề giúp các cơ quan quản trị trong Viện làm việc.
Ủy ban Học Vụ và Hội Đồng Kỷ Luật là bộ phận hoạch định tiên liệu trong tổ chức của Viện về học vụ và kỷ luật. Nhưng trong thực tế quá tŕnh hoạt động của Viện, tác dụng của hai cơ cấu này hầu như chưa được vận dụng đúng mức trong thực tế[57]…
b. Hội Đồng Khoa, thường gồm Khoa Trưởng, Phó Khoa Trưởng và một số nhân viên cốt cán trong khoa như các Trưởng Ban phụ trách các bộ môn, Chánh Văn Pḥng Khoa và các nhân viên giảng huấn được mời tham gia.
Nhiệm vụ của Hội Đồng Khoa thường giải quyết các vấn đề liên quan đến hành chính cơ bản, chương tŕnh giảng dậy, thi cử, nguyên tắc đánh giá điểm học và điểm thi, cùng các vấn đề linh tinh thuộc quyền hạn của mỗi khoa.
Hội đồng Khoa khi cần thiết cũng đóng vai tṛ Hội Đồng Kỷ Luật như có sinh viên vi phạm Kỷ Luật hay Học Vấn trong Phân Khoa[58]
Nhiệm vụ của Viện thường bao quát hơn liên quan đến các vấn đề về học vụ, tài chánh chung, giao tế hợp tác đối ngoại, quản trị tổng quát, phối hợp hoạt động học vụ hay phục vụ học vấn của các khoa và các bộ phận khác trong Viện, và vấn đề quan hệ với Hội Đại Học Đà Lạt. Sau cùng là trách nhiệm với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về công việc điều hành và những vấn đề nảy sinh cần giải quyết liên quan đến Hội và Viện Đại Học Đà Lạt.
5. Qui chế nội bộ Viện Đại Học.
Để kiện toàn tổ chức Viện Đại Học Đà Lạt, một qui chế điều hành tổng quát cho Viện Đại Học Đà Lạt cũng được Giám Mục Chưởng Ấn ban hành theo văn thư số 183/71/VC, kư ngày 23/8/1971 và chính thức áp dụng từ ngày 25/11/1971.
Triển khai cụ thể hơn, GM Chưởng Ấn cũng ban hành liên tiếp văn thư số 285/72/VC, kư ngày 20/11/1972, xác định quy chế cho nhân viên giảng huấn. Tất cả những qui chế này chỉ được áp dụng một cách giới hạn, linh động và uyển chuyển theo t́nh h́nh chung như lịch sử và tài chánh cùng sáng kiến cụ thể ở mỗi giai đoạn. Đây chính là chiều hướng ổn định trong việc quản trị Đại Học dưới thời Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng
6. Nhân Sự Giảng Huấn Và Hành Chánh.
Ban Giảng huấn niên khóa 1960-61 có khoảng 29 nguời cả giáo sĩ và giáo dân thường. Trong số các giáo sĩ, các các linh mục ḍng Tên, Đa Minh 1 linh mục ḍng SAM và 1 sư huynh Lasan, 1 linh mục Xuân Bích. Các giáo sư thuộc nhiều quốc tích: Việt Nam, Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha.
Đây là một số vị giáo sư ban đầu mà cựu sinh viên Triết Nguyễn Văn Lục[59] c̣n nhớ được:
Về triết lư có: ÔÔ. Lư Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Bửu Lịch, BS Đào Huy Hách, Bà Monavon; Giám Mục Hoàng Văn Đoàn OP; Các Linh mục Bửu Dưỡng OP, Lê Tôn Nghiêm; SH Pierre Trần Văn Nghiêm Lasan; Các Linh mục Alexis Cras OP, Marie-Bernard Pineau OP, Joseph Tchen SJ, Matthias Tchen SJ, C. Larre SJ, Palacios SJ, Y. Raguin SJ, Gaultier SJ.
Về Pháp Văn có: Bùi Xuân Bào, Vơ Văn Lúa, Trương Bửu Lâm, Đoàn Mừng, Linh Mục Nguyễn Ḥa Nhă; René Cabrière, Beucher, Lm Alexis Cras OP, Mlle Tiot, Père Duluth, Donini
Ngoài một số nhân viên giảng huấn cơ hữu gia tăng của Viện, về sau gồm có một số giáo sư và các phụ khảo, hai nguồn cung ứng nhân sự chính yếu cho Đại Học Đà Lạt được tận dụng là:
Nguồn nhân sự tại chỗ: nhiều sĩ quan, giáo sư thỉnh giảng từ nhiều cơ sở giáo dục và nghiên cứu, như Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đại Chủng Viện Minh Ḥa, Trung Tâm Nguyên Tử Lực, Trường Vơ Bị Đà Lạt, Trường Chiến Tranh Chánh Trị và Trường Bùi Thị Xuân cùng một số ḍng tu tại Đà Lạt
Nguồn từ các Trường đại học, Viện nghiên cứu và các Giáo phận trong nước nhưng ở ngoài Đà Lạt, như nhiều trường thuộc các Viện Đại Học công và tư tại Sàig̣n, và Huế, Hải Học Viện Nha Trang, …
Biểu đồ 5. Phân Bố Nhân Sự Hành Chánh Niên khóa 1973-74
|
TT |
Bộ Phận |
Hành Chánh |
Giảng huấn |
Chú thích |
|
1 |
Hội Đại Học Đà Lạt |
06 |
|
|
|
2 |
Hội Đồng Viện ĐHĐL |
11 |
|
|
|
Đà Lạt |
||||
|
3 |
Văn Pḥng VĐH/ĐL |
07 |
|
|
|
4 |
Trường Sư Phạm |
04 |
28 |
Hầu hết là thỉnh giảng, chung cha cả Đà Lạt và Sàig̣n |
|
5 |
Trường Văn Khoa |
05 |
70 |
|
|
6 |
Trường Khoa Học |
09 |
48 |
|
|
7 |
Trường Chánh Trị KD |
07 |
83 |
|
|
8 |
Thần Học |
|
|
Chưa có |
|
9 |
Thư Viện |
02 |
|
|
|
10 |
Tu Thư & Báo Chí |
02 |
|
|
|
11 |
Tuyên Úy Vụ |
01 |
|
|
|
12 |
Sinh Viên Vụ |
01 |
|
|
|
13 |
Pḥng Quản Lư |
21 |
|
|
|
14 |
Đại Học Xá B́nh Minh |
02 |
|
|
|
15 |
ĐHX Kiêm Ái |
05 |
|
|
|
16 |
ĐHX Trương Vĩnh Kư |
04 |
|
|
|
17 |
Pḥng Y Tế |
02 |
|
|
|
Sàig̣n |
||||
|
18 |
Hệ Thống Tổng Quản Lư |
09 |
|
8 cơ sơ kinh doanh |
|
19 |
Cơ Sở thuộc VĐHĐL |
16 |
|
3 bộ phận: VPLL, SVV, Ban Cao học CTKD |
|
|
|
116 |
229 |
|
|
Tổng Kết: Tổng cộng 19 bộ phận gồm 342 người cả về hành chánh và giảng huấn. Một số người kiêm nhiệm cả hai lănh vực hành chánh và giảng huấn, hay cùng một người giảng dậy ở nhiều phân khoa khác nhau, không tính con số nhân sự của Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X với tính các là Phân Khoa Thần Học. |
||||
Nhân viên hành chánh nói chung gồm một số người cố định tham gia công việc hành chánh và quản trị, nhưng tŕnh độ đào tạo chưa được chuyên môn hóa cao và cần được chỉnh đốn cho thích hợp với đà tiến chung của xă hội. Các nhân viên hành chánh làm việc tại các đơn vị khác nhau, như ở Văn pḥng Hành Chánh Viện, Khoa, Thư Viện, Trung Tâm Sinh Viên, Sinh Viên Vụ, Pḥng Quản lư, Tu Thư & Báo Chí
7. Sĩ Số Sinh Viên Ghi Danh.
Với lư tưởng Thụ Nhân, Viện Đại Học Đà Lạt lấy mục tiêu giáo dục con người, “trồng người” là chính. V́ thế Viện không nhắm nhiều đến sĩ số sinh viên ghi danh để tính lợi nhuận kinh tế. Tuy nhiên sĩ số thay đổi theo từng niên khóa trong giai đoạn đầu tiên 1958 đến 1975. Cho đến nay, với một số chứng liệu cơ bản, có thể lập được một bảng thống kê đầy đủ về tiến tŕnh thay đổi sinh viên trong tất cả các năm. Trong những năm đầu chắc là con số rất khiêm tốn. Nhưng từ năm 1970-1975, con số sinh viên ghi danh thay đổi từ khoảng 3000-4000, chỉ tại cơ sở Viện Đại Học ở Đà Lạt.
Biểu Đồ 6. Sĩ Số Sinh Viên Theo Học Viện Đại Học Đà Lạt (1958-1973)[60]
|
PhânKhoa |
Sư Phạm |
VănKhoa |
Khoa Học |
CTKD |
Thần Học |
Tổngcộng |
|
Niên Khóa |
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
(5) |
(6) |
|
1958-59 |
019 |
|
|
|
23 |
0019 |
|
1959-60 |
109 |
0011 |
037 |
|
20 |
0187 |
|
1960-61 |
163 |
0071 |
079 |
|
17 |
0316 |
|
1961-62 |
177 |
0158 |
091 |
|
23 |
0456 |
|
1962-63 |
140 |
0247 |
072 |
|
25 |
0459 |
|
1963-64 |
112 |
0271 |
061 |
|
33 |
0444 |
|
1964-65 |
051 |
0295 |
094 |
1075 |
26 |
1515 |
|
1965-66 |
000 |
0405 |
112 |
0865 |
25 |
1382 |
|
1966-67 |
109 |
0633 |
149 |
0878 |
26 |
1769 |
|
1967-68 |
083 |
0952 |
253 |
1165 |
29 |
2153 |
|
1968-69 |
120 |
1071 |
400 |
1136 |
28 |
2750 |
|
1969-70 |
250 |
1277 |
434 |
1386 |
28 |
3347 |
|
1970-71 |
336 |
1091 |
685 |
1379 |
30 |
3191 |
|
1971-72 |
343 |
1003 |
751 |
1391 |
32 |
3891 |
|
1972-73 |
565 |
1379 |
767 |
1708 |
32 |
4319 |
|
1973-74 |
|
|
|
|
30 |
|
|
1974-75 |
|
|
|
|
23 |
|
|
Tổng cộng |
2805 |
9870 |
3985 |
13206 |
450 |
27866 |
|
Chú thích: 1/Tổng Kê này (Chỉ Nam SV 73-74, t. 9) chỉ có tính tương đối, v́ đối chiếu với các số liệu do chính phân khoa [Chỉ Nam SV 73-74, t.31 (SP) ghi 2805; t. 49 (VK) ghi tổng số sinh viên của khoa là 8838; t.74-75 (KH) ghi 3985; t. 103 (CTKD) ghi tổng số sinh viên của Trường là 10.871, th́ chỉ có trường SP và KH là phù hợp, c̣n hai Trường VK và CTKD là không phù hợp, trong cùng một tài liệu nói trên. 2/ Tổng kê này không phản ảnh số liệu về sinh viên nam và nữ. 3/Nếu đối chiếu với các số liệu về sinh viên ở Bảng thồng kê toàn viện 1958-73 (CNSV 73-74), bản thống kê 1957-61 (Dalat University), và các thống kê 1958-73 của từng Phân Khoa trong Chỉ Nam Sinh Viên 1973-74, th́ rất khó phê phán chính xác về nhiều phương diện, v́ các số liệu không trùng khớp nhau! 3/ Sinh viên GHHV c̣n tiếp tục học tới niên khóa 1977-1978. Số chủng sinh làm linh mục là 245, trong đó có 10 người được thụ phong Giám Mục và một số đă qua đời. Như thế số người chuyển hướng ra đời thường là 205 người ( Linh mục F. Gomez (Lịch sử tóm tắt Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt, www.dunglac.net) đưa ra con số ít nhất có 358 sinh viên theo học, Kết quả có 178 người làm linh mục và 10 giám mục cho đến (2007) |
||||||
Như thế vấn đề tổ chức giảng dậy và sinh hoạt cho sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt cũng thật là phức tạp, v́ hầu hết sinh viên từ nơi khác đến và c̣n bị chi phối bởi vấn đề thời cuộc, như quân dịch (quân sự học đường). Số lượng sinh viên ghi danh hằng năm làm tăng cường nhịp sống kinh tế, th́ cũng làm cho các vấn đề văn hóa xă hội ở thành phố Đà Lạt trở nên nhiều khê hơn. Nhịp độ các hoạt động liên hệ như thăm viếng du lịch, chuyên chở các thân hữu của giáo sư, nhân viên và sinh viên đến và đi khỏi thành phố miền Cao nguyên này, nhất là những tháng cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa tại Miền Nam cũng tăng tốc.
Khi sĩ số sinh viên lên cao, th́ các nhu cầu chuyên biệt cho tập thể sinh viên cũng lớn lên. Có thể đó là một khía cạnh trong cách giải thích sự xuất hiện cần thiết của tổ chức Sinh Viên Vụ.
8. Chung quanh những ngày hấp hối của Viện Đại Học Đà Lạt
Vài h́nh ảnh những ngày cuối cùng của Viện.
Vào những ngày cuối tháng 3/1975, Sư huynh Théophane Nguyễn Văn Kế đang băn khoăn có nên ở lại hay chạy đi khỏi Đà Lạt. Các sư huynh trẻ đang vội vă lấy Honda rủ nhau đi theo lối xuống Nha Trang, v́ ngả đường đi theo dốc đèo Prenn đă bị cắt đứt. Ông chưa sẵn sàng đi, th́ cô Hoàng Yến, một cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt bay từ Kontum về Đà Lạt bằng trực thăng quân sự. Cô t́m đến ngay biệt thự số 6 Trần Hưng Đạo, như một sứ thần báo tin. Gặp cô, ông hỏi ngay:
“Phải làm ǵ trong giờ phút quyết liệt này?”.
“Thưa Frère, con vừa trên Dinh Tỉnh Trưởng xuống đây. Ông Tỉnh Trưởng ra lệnh đóng cửa tất cả các ngơ ra vào Đà Lạt khởi sự từ chiều nay. Con đến nói với Frère là nên rời Đà Lạt ngay cho sớm. Từ biệt Frère.
Ấy thế là ông quyết định rời bỏ Đà Lạt và từ biệt VĐHĐL vào 1 giờ trưa một ngày vào hạ tuần Tháng Ba năm 1975
Ngày 30/3/75, một ḿnh Giáo sư Nguyễn Khắc Dương bám trụ tại khuôn viên Viện Đại Học tại Đà Lạt. Trước đó người viết, sau ngày 20/3/1975, nhận được từ Đà Lạt gửi xuống Sàig̣n một danh thiếp cá nhân GS Nguyễn Khắc Dương, Q. Khoa Trưởng Trường Đại Học Văn Khoa Đà Lạt. Mặt sau danh thiếp có ghi chú mấy lời là ủy nhiệm người viết làm Quyền Khoa Trưởng trông coi về công việc liên quan đến Trường Văn Khoa qua Văn Pḥng Liên Lạc của Viện tại Sàig̣n.
Trong những ngày cuối cùng c̣n ở Đà Lạt, GS Phó Bá Long đến Viện c̣n tận mắt thấy GS Nguyễn Khắc Dương qú lạy trước cha Viện Trưởng Lê Văn Lư, tha thiết van xin ngài ra đi khỏi Viện trong cảnh hỗn loạn, và hăy để một ḿnh GS đứng mũi chịu sào đối phó với những người chủ mới đến Viện![61]
Hồi ức của GS Phó Bá Long mô tả lại những cảm nghĩ hành động và phản ứng trong giờ phút dẩu sôi lửa bỏng ấy như sau:
Chuyến đi khỏi Đà Lạt vôi vă như ma đuổi
“Ông gợi ư Đà Lạt nên đón nhận toàn bộ phân khoa và bộ phận sinh viên của Viện Đại Học Huế đến trú. Chuyện đă diễn ra là sinh viên của Viện Đại Học chạy ùa ra lấy vé hàng không, chuồn càng nhanh càng tốt khỏi Đà Lạt.Chuyện diễn ra dường như ông hoàn toàn không chú ư đến t́nh thế của Viện Dại Học Đà Lạt.
Một tuần trước Chủ Nhật lễ Lá, Viện Đại Học Đà Lạt chính thức đóng cửa và những sinh viên c̣n lại được di tản về Sàig̣n. Bà Claire và ông quyết định rằng khôn ngoan là di chuyển chính gia đ́nh họ. Sau một số khó khăn, ông t́m cách xoay sở, kiếm được vé cho tất cả mọi người thuộc gia đ́nh ông. Ông tháp tùng gia đ́nh ông về Sàig̣n, thấy họ yên ổn định cư và trở về Đà Lạt, bàn luận về số phận của Viện Đại Học Đà Lạt. Viện Trường Viện Đại Học và ông quyết định ông sẽ chuyên chở toàn bộ hồ sơ thành tích ghi điểm học vấn của sinh viên về Sàig̣n và lập một khuôn viên tại đó. Ban Kinh doanh tốt nghiệp đă sẵn sàng được bố trí tại Sàig̣n. Như thế kế hoạch của Viện là phát triển ban đó để tiếp nhận trường đại học sinh viên học đế tốt nghiệp.
Trước khi rời bỏ Đà Lạt, ông tham dự thánh lễ cuối cùng trong khuôn viên hoang vắng. Hôm đó là Ngày Thứ Năm Tuần Thánh và ông có linh cảm là một cái ǵ rất quan trọng sắp xảy ra. Ông cầu nguyện tha thiết cho sinh viên của ông và cho các con ông. Sáng hôm sau, Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ông rời bỏ Đà Lạt với hai chiếc xe hơi. Ông lái một xe và hai giáo sư Pháp lái các chiếc khác. Đem vào trong hai xe đó, ông nhồi nhét mọi thứ có thể - kể cả mấy con gà, một lô ảnh chụp, và bất cứ thứ ǵ ông có thể kéo ra từ trong hồ sơ của Bà Claire. Nhưng khối lượng đồ đạc cồng kềnh là những hồ sơ thành tích ghi điểm học vấn của mấy ngàn sinh viên của trường kinh doanh.
Họ cùng ông theo đường ra lối biển hơn là lối đi Blao, mà ông có nghe một cha xứ chỉ dẫn, các ngư phủ theo đúng nghĩa từng chữ là khiêng và mang hai chiếc xe và để chúng lên chiếc thuyến tam bàn đánh cá có gắn động cơ. Suốt đêm ngày Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, mọi người đi thuyền dọc theo bờ biển và sáng sớm hôm sau th́ đến Vũng Tàu. Không có những tiện nghi lên bộ, v́ thế lại một lần nữa, các ngư phủ khiêng xe hơi ra khỏi thuyền đế lên bến. Từ đó ông lái về Sàig̣n. Mắc dù nhiều phiền toái, nhất là về đêm, th́ đó là một chuyến đi không có xảy ra chuyện ǵ.
Gia đ́nh ông có hai căn nhà tại Sàig̣n, một tại An Phú, một tại Phong Phú. Gia đ́nh ông quyết định ở lại An phú, gần Sàig̣n hơn. Lễ Phục Sinh năm 1975 được cử hành với các cha Phanxicô tại ngôi nhà thờ mới tinh ở Đa Kao.
Chẳng bao lâu, có tin quân lính Cộng Sản đang tiến nhanh về thủ đô và dường như người Mỹ không chặn họ lại. Về sau ông phát hiện họ đă có một thỏa thuận ngầm là Cộng Sản cho phép người Mỹ rút lui trọn bộ trước khi chiếm khu vực này. Đó là Tháng Tư khó chịu ở Sàig̣n: ông cố để thi hành các nhiệm vụ của ông với tư cách Khoa Trưởng Trường Cao Học Kinh Doanh. Trong khi giảng dậy giáo tŕnh thông thường, ông cũng cố nhồi cho sinh viên hiểu biết tầm quan trọng là làm trọn việc học tập bất kể việc ǵ xảy ra. Đấy là cách ông chia sẻ điều ông tin là sẽ có một chế độ mới và họ cần phải chọn lựa điều ǵ tốt nhất cho họ và tốt nhất cho đất nước. Ông thực sự cảm nhận cái này là một cuộc nội chiến sẽ kết thúc với thắng lợi cho Miến Bắc.[62]
Trong Hồi Kư Quia Respexit Humilitatem Meam ghi lại một số chi tiết ngay trước và ngay sau những ngày Đà Lạt đổi chủ:
“ …nằm sau đường mương đàng sau nhà Ḥa Lạc, tức là nhà của Viện Trưởng Đại Học Đà Lạt, nh́n trường Vơ Bị Quốc Gia, ḿn đạn nổ như sáng rực cả một góc trời, tôi như người sực tỉnh khỏi một cơn mơ dài”[63].
“Ở lại Đà lạt tôi có ư: một là sớm được cùng gia đ́nh đoàn tụ, hai là nếu Viện Đại Học Đà Lạt vẫn được chế độ mới chấp thuận để cho Giáo hội quản lư, th́ tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại Viện Đại Học; nếu như chế độ mới không cho phép Viện Đại Học Đà Lạt được tiếp tục dưới sự quản lư của Giáo Hội, th́ có thể tôi vẫn được lưu dụng, [trang 168] c̣n nếu không được lưu dụng th́ tôi sẽ đề nghị Toà Giám mục Đà Lạt sử dụng tôi làm việc ǵ cũng được. V́ vậy, trong ban giáo sư thuộc Viện Đại Học Đà Lạt cũ, tôi là giáo sư
duy nhất (cùng với một phụ khảo duy nhất có gia đ́nh tại Đà Lạt) ở lại, không di tản về Sài G̣n. Sau khi toàn bộ Ban Giám Hiệu rời Đà Lạt, tôi được Đức Giám Mục chỉ định ở lại Viện như thành phần của Ban Giám Hiệu, bảo quản cơ sở vật chất, cùng với toàn bộ anh em công nhân lao động chân tay đều ở lại cả.
Từ đêm 30/3/1975 chính quyền cũ rút khỏi Đà Lạt, cho đến ngày tôi bị đưa vào trung tâm thẩm vấn Đà Lạt (24/4/75), mọi sinh hoạt đều b́nh thường, tôi có tŕnh diện tại Ủy Ban Quân Quản, vị đại diện cho biết rằng: tại Đà lạt, thành phần giáo sư Đại học chỉ có một ḿnh tôi, nên tôi hăy chờ đợi có chính sách chung. Và sau khi một số anh em giáo sư di tản xuống Phan Rang vài ngày, tôi trở về Đà Lạt, tôi có cử người tiếp xúc với bộ phận đặc trách văn hóa giáo dục của Cách Mạng th́ cũng được trả lời như vậy. Và điều sau đây là cái sai lầm lớn (đúng hơn là cái khờ dại của tôi) trong những ngày ấy: đó là tham gia vào việc thành lập Hội Liên Tôn ở Đà Lạt!!!”[64]
[“Nay tôi cũng không nhớ rơ, trước hoặc sau khi Ủy Ban Quân Quản ra mắt đồng bào một hôm, tức là ngày 2 hoặc 4 tháng 4 (h́nh như trước một hôm, tức là ngày mùng 2 tháng 4 th́ có lẽ đúng hơn), trong lúc tôi đứng trước Rạp Chiếu Bóng Ḥa B́nh (nay là rạp 3/4) một nhà sư áo vàng thuộc hệ khất sĩ, c̣n trẻ tuổi (khoảng trên dưới 30) đến chào tôi và tự xưng là “Đại Diện” của Phật giáo nhờ tôi giới thiệu với Ṭa Giám Mục Đà Lạt, bàn về việc tổ chức thành lập một tổ chức gồm đại diện các tôn giáo để thực hiện hai mục đích:
1. Là tạo sự đoàn kết, hài ḥa giữa các thành phần nhân dân, tránh những xô xát tranh chấp do sự chưa ổn định thời cuộc (lúc ấy Sài G̣n chưa giải phóng).
2. Là giải quyết vấn đề ổn định những xáo trộn xă hội: cướp phá, thiếu lương thực, thực phẩm, các gia đ́nh ly tán neo đơn. Tôi thấy hai mục đích ấy không có tính cách chính trị mà chỉ là vấn đề nhân đạo [trang 169] xă hội phù hợp với tinh thần nhân ái của các tôn giáo, nên tôi đă dẫn vị sư này đến Ṭa Giám Mục.
Đức Giám Mục vui vẻ nhận lời, và chỉ định một Linh Mục Đại Diện, c̣n tôi Đại Diện Giáo Dân đến dự cuộc họp thành lập Hội Liên Tôn nói trên lại Chùa Linh Sơn. Sở dĩ như vậy là v́ từ năm 1963, hầu hết giới Công Giáo đều nghĩ rằng: giữa Phật Giáo và Cách Mạng có một sự thỏa thuận, cho nên những ǵ do Phật Giáo đề xướng hẳn là đều có sự chỉ đạo hoặc đồng ư của Cách Mạng! Hội Liên Tôn ấy hoạt động không đầy 10 ngày th́ tan ră, sau khi nhiều lần xin Ủy Ban Quân Quản cho yết kiến để lănh ư mà không được!
Thế nhưng có ai ngờ, h́nh như v́ việc thành lập Hội Liên Tôn ấy mà phần nào tôi trở nên đối tượng của sự ngộ nhận khá nặng nề! Thậm chí có người cho rằng: đó là lư do làm cho tôi bị đưa đi học tập cải tạo. Riêng tôi, tôi không nghĩ như vậy, v́ tôi nghĩ rằng Cách mạng đủ sáng suốt để thấy Hội Liên Tôn túc ấy thực chất chẳng có ǵ là phản cách mạng cả. H́nh như đương sự (tức là vị sư khất sĩ áo vàng nói ở trên đây) chỉ có ư đồ là nấp ḿnh ở dưới Hội Liên Tôn, không phải để chống đối Cách mạng mà chỉ là để né tránh sự xử lư của Cách Mạng đối với một số sai lầm của đương sự trong chế độ cũ (mà có lẽ đương sự là một Tuyên Úy Phật giáo của quân đội chế độ cũ, nay muốn nhờ Liên Tôn mà xóa nḥa cái vết tích ấy, sự việc có lẽ chỉ có vậy).
C̣n việc tôi bị đưa đi học tập cải tạo xảy ra như sau: theo chính sách của Cách mạng th́ những ai ra khỏi hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền trước hiệp định Paris, th́ xem như không có vướng mắc ǵ cả; mà tôi th́ giải ngũ năm 1956, từ đó tôi chỉ sống hoàn toàn trong khuôn khổ Hội Thánh, không dính líu một tổ chức hoạt động chính trị nào cả! Hơn nữa, dưới cái nh́n của một số anh em sinh viên và giáo chức tại Đà Lạt có ít nhiều tương quan với cá nhân tôi, tôi được xem như là thành phần tốt (hay ít nhất là vô can, vô sự; chỉ là một tu sĩ hụt, một trí thức trùm chăn!)
Hơn nữa, nếu v́ lư do chính trị mà tôi bị đưa đi học tập tại các trung tâm dành cho những thành phần ấy! Đàng này tôi đi học tập với tư cách là sĩ quan ngụy (mặc dù đă giải ngũ năm 1956) và như vậy là không đúng [trang 170] chính sách. Đến nay tôi cũng chưa rơ tại sao lại xảy ra sự việc như vậy! Lầm lẫn chăng? Nhưng thôi, chuyện đă qua rồi, hậu quả chẳng có ǵ trầm trọng lắm! Trái lại chỉ có lợi cho tôi về nhiều mặt như tôi đă tŕnh bày trên kia, và tôi cũng xác nhận rằng: chế độ của trại học tập của Tổng Trại 8 do Quân Khu 5 quản lư tại Sông Mao là rất tốt, hầu hết anh em học tập ở đó ra đều giữ một kỷ niệm tốt về thời gian học tập nhất là đối với số cán bộ thuộc thành phần bộ đội: cởi mở, chân thành đúng với truyền thống chân chính của danh hiệu “Bộ Đội Cụ Hồ”[65]]
“Sau ngày tôi trở về Viện Đại học Đà Lạt, tôi tiếp tục cư trú tại Trường Đại học (bấy giờ do một ban quản lư gồm đại diện của Nhà nước và đại diện của Giáo hội quản lư, nghiên cứu thể thức chuyển giao cho Nhà nước). Trong quy ước giữa hai bên th́ tất cả mọi giáo viên, nhân viên cũ của Đại học, nếu c̣n ở lại th́ được Nhà Nước lưu dụng, ngày 3/4/ 1975 tôi là giáo sư duy nhất ở lại. Thế nhưng, trong danh sách những người ở lại (lập trong thời gian tôi đi học tập vắng mặt, tôi bị lọt sổ hay bị gạch sổ) nên khi Đại học Đà Lạt hoạt động lại dưới sự quản lư của Nhà nước, tôi không được lưu dụng. Tôi bắt đầu tự mưu sinh bằng cách làm vườn trồng rau, đây là một kinh nghiệm quư và là một vinh dự lớn: tôi làm được ba vụ rau bắp cải, bán cho hợp tác xă phường 4 Đà Lạt!
Nhân dịp này tôi cũng xin ghi lên đây lời thành tâm tri ân đối với một số anh chị em đă có ḷng thương giúp đỡ tôi về mọi mặt, trong thời gian tôi lưu trú tại Đại học Đà Lạt; giúp đỡ lao động sản xuất, chia sẻ lương thực thực phẩm, áo quần và tiền nong - quả là bát cơm phiếu mẫu đáng giá ngh́n vàng! Điều quư hóa là phần đông các ân nhân ấy là những người đôi khi không có liên lạc ǵ với tôi trước, nay biết tôi ở vào hoàn cảnh khó khăn th́ giúp đỡ v́ ḷng từ thiện, ngoài ra tôi cũng [trang 171] như bất cứ người nào đi học tập về đều gặp nhiều khó khăn đôi khi khá căng thẳng về mọi mặt”[66].
“Từ cuối đêm 26 rạng ngày 27 tháng 8 năm 1976, đêm đầu tiên tôi trở về lại Đà Lạt sau 16 tháng cải tạo, tại nhà Hoà Lạc của Đại Học Đà Lạt, tôi quỳ gối phỏng ư bài thơ “Lên Đỉnh Cát Minh”, ghi lại những ḍng sau đây:
“Đêm nay mới thật là đêm
Bao năm lạc bước êm đềm về đây
Về đây sau những tháng ngày
Đau thương phúc lạc tràn đầy cả hai
Bắt đầu tất cả đêm nay:
B́nh an, phúc lạc, an b́nh, b́nh an”. [trang 191]
Và sau mấy câu thơ ấy, tự nhiên tôi thay đổi chữ kư.
Trước th́: [chỗ này có chữ kư dài]
Nay đổi sang như sau: [chữ kư tắt]
Sự thay đổi tự nhiên bột phát đêm hôm ấy có phải chăng là dấu hiệu tôi bước sang một giai đoạn mới hoàn toàn mới của cuộc đời? Sự thay đổi mà trước kia bao nhiêu người khuyên tôi, v́ họ cho chữ kư cũ là rất xấu và rất nguy, nhưg tôi đă nhất định không chịu nghe. Đêm ấy, gần như một cách vô thức, vô ư định, tôi đổi chữ kư, một việc làm mà tôi không hiểu do đâu, mà chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên! Và quả thực, cuộc đời tôi đổi mới hoàn toàn”[67].
“Sau ngày trở về lại Đà Lạt, anh Viện[68] là người đầu tiên đến thăm tôi tại trường Đại học Đà Lạt. Điều đáng nói nhất là trong một buổi toạ đàm do trường tổ chức tại pḥng khách nhà Viện trưởng cũ. Tôi ngồi nghe anh Viện nói chuyện, mà cứ như trong mộng. Thật khó ngờ được rằng lại có cái ngày anh Viện tôi đến thuyết tŕnh cho anh em cán bộ Trường Đại Học Đà Lạt, ngồi tại chính cái pḥng khách ấy! Và lẽ ra, ít nhất tôi cũng được đón anh tôi với tư cách giáo sư duy nhất ở lại Viện Đại Học, lúc toàn ban giáo sư di tản, thế nhưng, lại ngồi nghe anh như một anh ngụy quân đi học tập về chưa có quyền công dân! Tôi thương ḿnh th́ ít mà thương anh th́ nhiều! Chẳng biết thâm tâm anh ra sao, nhưng tôi thấy anh có thương tôi nhiều mới lên thăm tôi để hai anh em chúng tôi phải sống những giây phút khá oái oăm như vậy!”[69]
Trong lúc GS Nguyễn Khắc Dương phải rắc rối với nhiều chuyện nan giải, th́ số phận Viện Đại Học Đà Lạt vẫn được những người làm chủ mới quyết định. Năm 1975, Ban Quân Quản thị xă Đà Lạt và GS Nguyễn Lam Kiều từ phía Bắc vào tiếp quản Viện, phối hợp với nhân viên của Viện “canh gác bảo vệ” cho Viện[70].
Chương Sáu: Khối Hành Chánh
1. Văn Pḥng Hành Chánh
Gồm các thư kư phụ trách một số công việc khác nhau, điện thoại viên, tùy phái trong Ṭa Viện Trưởng, phụ tá các hoạt động hành chánh cho Viện Trưởng. Viện Trưởng có một Phó Viện Trưởng công tác. Một Tổng Thư kư đôn đốc mọi việc hành chánh và một sống công việc do Viện Trưởng uỷ nhiệm trong văn pḥng Viện. Lần luợt có các Phó Viện Trưởng Nguyễn Ḥa Nhă làm việc dưới thời LM Nguyễn Văn Lập, và ông Trần Quang Diệu làm Tổng Thư Kư. Trước đó, anh Sử[71] nắm nhiệm vụ Chánh Văn Pḥng Hành Chánh ở Toà Viện Trưởng. Đến thời kỳ Linh Mục Lê Văn Lư làm Viện Trưởng th́ có LM Hoàng Quốc Trương làm Phó Viện Trưởng nhưng không có chức vụ Tổng Thư Kư. Năm 1972, Lm Viện Trưởng bố trí GS Đỗ Hữu Nghiêm làm Phụ Tá Hành Chánh[72] cho Viện Trưởng trông coi việc hành chánh[73].
Ṭa nhà hành chánh (Ḥa Lạc) Viện Đại Học Đà Lạt gồm các ông Phan Phát Tường, Nguyễn Viết Khai, Nguyễn Hữu T́nh, Nguyễn Đức Hảo.
Hầu hết các nhân viên kế thừa từ nhiệm kỳ của LM Viện Trưởng tiền nhiệm Nguyễn Văn Lập. Một vài vấn đề khó khăn tự nhiên trong giai đoạn chuyển tiếp nhiệm kỳ giữa Viện Trưởng mới và cũ về tâm lư của những người cùng cộng tác nhưng chưa hiểu nhau rơ và chưa ḥa đồng được ngay. Có những khó khăn do tŕnh độ đào tạo, địa phương của một số người. Nhưng cách xử dụng người theo tinh thần bác ái nhân bản không thể một sớm một chiều làm thay đổi tất cả. Nhưng rồi mọi việc vẫn diễn tiến êm xuôi ít ra trước mắt cho đến ngày 30/3/1975 ở vùng Đà Lạt
2. Pḥng Liên Lạc tại Sàig̣n: Viện có một Văn Pḥng Liên Lạc tại Thương xá Tax ở Sàig̣n, do Ông Đỗ Văn Thành phụ trách chung vào giai đoạn năm 1971-1974.
Một trong những hoạt động chính yếu của Pḥng Liên Lạc là chuẩn bị việc đưa rước các giáo sư đi Đà Lạt để dậy học và đưa các vị đó về lại Sài g̣n. Pḥng Liên Lạc mua vé máy bay cho các giáo sư nào muốn đi đường hàng không hay điều chuyển xe chuyên chở các giáo sư nào muốn đi lại bằng đường bộ.
Văn pḥng này lúc đầu đầu được đặt tại số 262 Trương Minh Giảng Sàig̣n 3. Nhân sự gồm một Trưởng Pḥng với một vài thư kư và tài xế. Khi Ban Cao Học CTKD được thiết lập tại Sàig̣n và khai giảng ngày 11/1/1969 tại Lầu II, Ṭa Nhà Thư Quán Xuân Thu và Trường Taberd. Sau đó Cơ sở trường chuyển sang Lầu II, Thương Xá Tax, đường Nguyễn Huệ Sàig̣n 1 th́ Văn Pḥng này cũng chuyển theo.
1. Nguyện Đường:
Khu nguyện đường đi liền với sinh hoạt tâm linh này, năm 1970-1975, có một Lm tuyên úy sinh viên là Lm Lă Thanh Lịch cũng từ Gp Cần Thơ, gốc Gp Hà Nội lên phục vụ.
Nguyện đường Năng tĩnh là kiến trúc biểu trưng cao đẹp nhất của lư tưởng phục vụ của Viện Đại Học Đà Lạt. Ngôi thánh đường được xây dựng ở khu đất trang trọng, uy nghi, trên đỉnh đồi cao nhất khu A được san bằng. Thánh đường được thiết kế theo đồ h́nh tổng quát là tam giác, phù hợp với ngọn tháp tam giác cao vút lên trời xanh, biểu tượng huyền nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, cao 38 mét.
Toàn thể cấu trúc ấy hiển nhiên nói lên quan hệ Trời Đất Người – Thiên Địa Nhân, trong tâm thức giao lưu của văn hóa Á Đông cổ truyền - triết lư Tam Tài. Trước Ṭa Nhà Năng Tĩnh là một sân trải sỏi đất đỏ được vẫn dùng làm nơi tổ chức những buổi lế tiếp đón quan khách hay nghi lễ truyền thống, kỷ niệm như lễ quan thầy của Viện và lễ phát bằng tốt nghiệp hằng năm. Nguyện Đường này là nơi cử hành thành lễ hằng ngày của Linh Mục Viện Trưởng và các Linh Mục sinh hoạt trong Viện Đại Học phục vụ tại chỗ hay từ nơi khác đến. Thời LM VT NguyễnVăn Lập, thánh lễ hằng ngày được cử hành ở ṭa nhà có văn pḥng Viện
Theo Linh mục Nguyễn Văn Lập nhớ lại, các sinh viên Công giáo lập nên Liên Đoàn sinh viên Công giáo lúc đó chiếm khoảng 10% sĩ số toàn viện tương đương với tỷ lệ ngoài xă hội. Các sinh viên Phật giáo tổ chức các sinh hoạt trong Chùa, có một ít sinh viên Tin Lành. Tất cả đều sống hài ḥa, không có vấn đề kỳ thị tôn giáo.Nhà nguyện Công giáo tọa lạc trên đồi cao, chung quanh là các pḥng dành cho các giáo sư và các pḥng học của sinh viên.
Có những lúc sinh viên Công giáo cầu nguyện bên trong, bên ngoài sinh viên các tôn giáo khác học bài trong bầu không khí thinh lặng và thân thiện. Có thánh lễ vào buổi trưa nhưng không có các hội đoàn trong viện. Linh mục thường nói với sinh viên: “Chúng con ai là Công giáo th́ phải là Công giáo 100%, ai là Phật Giáo th́ cũng phải là Phật Giáo 100%, th́ tự nhiên có ḥa đồng.”
Linh mục Nguyễn Văn Lập biểu hiện t́nh cảm thân cận với các tu sĩ Phật giáo bên Chùa Linh Sơn. Có một đại đức trẻ đự định sang Nhật du học tại một trường Phật Giáo. Bên Nhật đ̣i vị đó phải xuất tŕnh bằng cấp đă đậu ở Việt Nam, nhưng các tăng ni ít khi tham dự khảo thí để lấy bằng phần đời. Nếu không, ít nhất phải có thư giới thiệu của một giáo chức cao cấp có uy tín trong ngành giáo dục. Linh mục sẵn sàng nhận giới thiệu ngay để giải quyết khó khăn cho vị đại đức ấy. Trước ngày lên đường, vị đại đức tố chức một buổi tiếp tân cám ơn và từ biệt các thân nhân, bằng hữu và ân nhân. Trong số các khách mời , có Thượng Tọa Thích Minh Châu, Thích Thiện Minh và nhiều vị Thượng Tọa khác cùng Linh mục giáo sư Trần Thái Đỉnh. Khi linh mục Viện Trưởng tới, các ThuợngTọa hỏi Lm Đỉnh người vừa đến là ai. Linh mục bắt tay chào các Thượng Tọa và khi biết Linh mục Lập đă có cư chỉ ưu ái với đại đức, các Thượng Tọa ngỏ lời cám ơn.
H́nh ảnh một nguyện đường đại học
2. Tuyên Úy Vụ
a. Linh Mục Tuyên Úy được thành lập từ năm 1959 cho một tập thể sinh viên nhỏ bé ban đầu. Nhiệm vụ chính của Tuyên úy là “phát huy văn hóa Việt Nam trong khía cạnh nhân bản, dân tộc và khoa học, dung ḥa các giá trị cổ truyền quốc gia với mọi tư tưởng quốc tế, nhất là tinh thần Phúc Âm Công Giáo[76]”. Pḥng Tuyên úy c̣n giúp đỡ các sinh viên ngoài Công giáo muốn t́m hiểu đức tin Kitô. Khi sinh viên Công giáo đông hơn, th́ các sinh viên được qui tụ và tổ chức thành Đoàn Sinh Viên, rồi Liên Đoàn Sinh Viên Công giáo, do các trường hay phân khoa hợp thành. LĐSVCG được các vị LM tuyên úy sau đây lần lượt hướng dẫn:
Palacios, SJ
Phạm Văn Nhượng, gốc giáo phận Phát Diệm
Trịnh Việt Yên, gốc giáo phận Thanh Hóa
Từ năm 1971, Lm Lă Thanh Lịch, gốc giáo phận Hà Nội, sát nhập giáo phận Cần Thơ, được cử nhiệm làm tuyên úy[77].
b. Đoàn Sinh Viên Công Giáo Đà Lạt. Tập thể sinh viên Công Giáo Đà Lạt có tỷ lệ trung b́nh là khoảng 41% (sau Phật giáo là khoảng 45%) theo thống kê tháng 4/1973 trong sĩ số sinh viên ghi danh thụ huấn ở các khoa trong Viện. Đó là một số liệu thanh niên Công giáo tương đối cao trong một nước mà đa số không phải là Công Giáo
LĐSVCGĐL qui tụ các đoàn sinh viên thuộc các đại học xá: B́nh Minh, Kiêm Ái, Trương Vĩnh Kư, Trinh Vương và sinh viên ngoại trú. Ban Chấp Hành LĐ gồm các chức vụ Chủ Tịch, Tổng Thư Kư và hai Ủy Viên Nội và Ngoại Vụ, làm việc chặt chẽ với Ban Chấp Hành các đoàn hội viên.
Các hoạt động SVCG được các Pḥng chuyên biệt phụ trách. Pḥng Cố Vấn và Nội Vụ lo Ca Đoàn Thụ Nhân, ca đoàn Phụng vụ, Tĩnh Tâm, Giáo Lư và Truyền bá Phúc Âm. Sau cùng, Pḥng Nội vụ cũng hợp tác với Đoàn Thanh Niên Công Giáo Đại Học (JUC) tổ chức thuyết tŕnh và ấn hành nội san Năng Tĩnh để thông tin và huấn luyện. Pḥng Ngoại vụ cùng Ban Chấp Hành mỗi đoàn lo các hoạt động đối ngoại và xă hội, quốc nội cũng như quốc tế
LĐSVCG Đà Lạt cũng giao lưu sinh hoạt với LĐSVCG các nơi như Sàig̣n, Huế và sau này Cần Thơ lập nên một Tổng Liên Đoàn SVCGTQ, từ sau chính biến 1/11/1963.
Ba phái đoàn sinh viên Công Giáo Sài g̣n, Đà Lạt và Huế gặp nhau tại Trung Tâm Phục Sinh ở Sàig̣n vào đúng ngày 1/11/1963. Ngày thảo luận về qui chế tổ chức và hoạt động của giới sinh viên Công giáo toàn quốc lại là ngày đất nước Việt Nam đi vào một chiều hướng chính trị mới. Ngày 2/11/1963, các thành viên của ba phái đoàn sinh viên vẫn lặng lẽ kiên tŕ làm việc cẩn trọng.
Kể từ khi thành lập TLĐ/SVCGVN th́ TLĐ trực thuộc hệ thống Phong Trào SVCG Quốc Tế Pax Romana (MIEC). TLĐ/SVCGVN được điều hành bởi Văn Pḥng Tổng Thư Kư, TLĐ/SVCGVN, gồm có Tổng Thư Kư, Phó TTK Nội Vụ, Phó TTK Ngoại Vụ và Thủ Quĩ.
Hội nghị bầu cử một Ban Chấp Hành Lâm Thời, gồm các thành phần sau đây:
Chủ Tịch: Đào Duy (Đại Học Sàig̣n)
Phó Chủ Tịch: Lê Thị Thiện (Đại Học Đà Lạt)
Tổng Thư Kư kiêm Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Đương (Đại Học Huế)
Ban Tuyên Úy của TLĐ gồm có các Lm Nguyễn Huy Lịch (Sàig̣n), Nguyễn Ḥa Nhă (Đà Lạt) và Nguyễn Văn Trinh (Huế).
Tổ chức TLĐSVCGVN được tài trợ từ TGM Nguyễn Văn B́nh (1000$ làm quỹ hoạt động ban đầu), và Lm Nguyễn Văn Lập, Viện Trưởng Viện Đại Học Đà lạt. Chính vào khoảng năm 1966, LĐSVCGSG, Đoàn SVCG Huế, Đoàn SVCG Đàlạt (năm sau mới có Đoàn SVCG Cần Thơ) họp tại Sàig̣n,