Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
Bài Viết Của
Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
Bài hát DÂNG MẸ HOA NĂM SẮC
Lội Ngược Dòng - Níu Lấy Bản Sắc
ƠN Cha Mẹ
Mẹ Tôi
Mừng Chúa Phục Sinh,
Lòng Trời
Bài hát: XIN KHẮC TRONG CON
Thư Đầu Năm Kính Gửi Quý Nhạc Sĩ Công Giáo.
Tôi, làm diễn giả.
Father's Day - Tạ ơn Cha !
Thánh Ca: Một Giao Ước, file PDF
Bàn Tay Chúa Chạm Đến Hồn Con
Hải tặc Thái Lan
"Giêsu Giêsu, con muốn yêu Ngài tha thiết..."
Bài Hát Con Sẽ Trở Về_ File PDF
CON SẼ TRỞ VỀ
Tản Mạn Cuối Năm
LỜI TẠ ƠN TRONG NGÀY LỄ THANKSGIVING
“THƯỢNG TIẾN DÂNG LÊN - CỦA LỄ VẸN TOÀN”
Của Lễ Vẹn Toàn
Thượng Tiến Dâng Lên
TÁC PHẨM, TÁC GIẢ VÀ NGƯỜI DỊCH THƠ
Thư Phân Ưu của Hội Nhạc Sĩ Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại
TẠ ƠN CHA
Lữ Khách Bình An
Thánh Ca: Hạt Bụi (file PDF)
Thánh Ca: Con sẽ trở về (file PDF)
CON SẼ TRỞ VỀ
Thư Tri Ân Của HỘI NHẠC SĨ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HẢI NGOẠI
DIỄN VĂN KHAI MẠC ĐẠI NHẠC HỘI HÁT LÊN MỪNG CHÚA (Thứ Bảy Ngày 24 Tháng 10, Năm 2015)
Thánh Vịnh 33 - Đáp Ca Chúa Nhật XX TN, Năm B File Midi
Thánh Vịnh 33 - Đáp Ca Chúa Nhật XX TN, Năm B File PDF
Thánh Vịnh 44 - Đáp Ca Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, File Midi
Thánh Vịnh 44 - Đáp Ca Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, File PDF
“TỪ DẠO ẤY” - Chúc Mừng Cha Văn Chi 40 Năm Linh Mục 1975 - 2015
LỮ KHÁCH BÌNH AN
Slideshow Con Sẽ Trở Về
CON SẼ TRỞ VỀ
Thánh Vinh 31, Đáp Ca Chúa Nhật 6 TN Nam B, file Midi
Thánh Vinh 31, Đáp Ca Chúa Nhật 6 TN Nam B, file PDF
HẢI TẶC THÁI LAN

  

Bạn đọc thân mến,


 

Mãi đến hôm nay (Năm 2017). Nghĩa là sau hơn 42 năm ly hương kể từ ngày 30 tháng 04 năm 1975. Hễ mỗi lần nhắc đến bất cứ câu chuyện gì nếu có liên quan đến hai chữ “thái lan” như Quốc gia Thái Lan, chùa chiền Thái Lan, chính trị Thái Lan, gạo Thái Lan, nước mắm Thái Lan, sầu riêng Thái Lan, du lịch Thái Lan, nhà hàng Thái Lan… là tôi liên tưởng ngay đến : hải tặc Thái Lan !
 

Vì sao vậy ? Thưa, vì chúng đã một thời cướp bóc, hãm hiếp và giết chết biết bao người Việt Nam của chúng ta. Cao điểm nhất là quãng thời gian từ năm 1977 đến 1985. Thời gian mà người Việt Nam bỏ nước đi tìm tự do bằng những chuyến vượt biển.

 

Đây là tội ác tày trời do bọn hải tặc Thái Lan gây nên, để lại nổi nhục nhã và đau xót khôn ngơi vì những vết thương không bao giờ liền da nơi con người và dân tộc Việt Nam.


 

Thưa bạn,

 

Tôi không muốn đề cập và nói chuyện đạo đức trong bài viết này, vì bản chất của tôi và của bạn, tất cả chúng ta là con người, và vì thế ai cũng biết xót thương, tủi nhục và giận hờn... Dĩ nhiên ở đây tôi không đề cập đến chuyện tha thứ hay trả thù đến bọn hải tặc Thái Lan, và hơn nữa những chuyện ấy cũng đã thuộc về quá khứ. Nhưng thưa bạn : tha thứ hay trả thù là do lương tâm, đạo đức và tôn giáo của mỗi cá nhân, và dẫu những câu chuyện này đã thuộc về quá khứ, nhưng không có nghĩa ta không nói lên những sự thật này, để thế hệ mai sau biết thêm một biến cố đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam.

 

Tuy nhiên tôi vẫn biết và ý thức rằng : tha thứ, là tạo được sự bình an trong tâm hồn của mình, trong khi trả thù thì không bao giờ được hóa giải, nhưng ngược lại và hận thù sẽ nhân lên mà thôi !


 

Bạn mến,

 

Có biết bao câu chuyện sảy ra trên biển Đông và vịnh Thái Lan, biết bao nhiều người bị chết, bao nhiêu phụ nữ bị chúng hãm hại, bị giết một cách dã man trong lịch sử nhân loại cận đại. Nạn nhân đó là ai ? Đó chính là những người Việt Nam, những người thân ruột thịt của chúng ta : là cha mẹ, anh chị em, là chồng vợ, là các phụ nữ và thiếu nữ thì làm sao tôi và bạn có thể hững hờ mà không đau lòng, phải không ?

 

Theo giám sát của Cơ Quan Cứu Trợ Người Vượt Biển của Liên Hiệp Quốc ước tính trên nửa triệu người VN đã bỏ mình trên biển Đông và vịnh Thái Lan cũng như các hoang đảo do bị gặp bão, đi lạc, hết lương thực và nước uống, bị đắm thuyền, nhiều nhất là bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, hãm hiếp rồi giết chết.

 

Trước khi viết xuống những câu chuyện dưới đây, tôi thành tâm xin được thắp lên nén hương lòng với lờ khấn vái cho những vong linh của Người Việt Nam xấu số đã không bao giờ được đến bến bờ.


 

Đã có biết bao câu chuyện vượt biên và hải tặc Thái Lan trên mạng, tôi xin phép được trích đăng một số bài. Và đây những câu chuyện đau thương và nhục nhã có thật đã xảy ra trong những thập niên cuối của thế kỷ 20.


 

Câu Chuyện Thứ Nhất:

 

Đêm hôm ấy, biển tĩnh lặng, bầu trời ngàn sao rơi trên mặt sóng lăn tăn vỗ nhẹ vào mạn thuyền. Một đêm lý tưởng để con thuyền lướt gió mau cặp bến tự do thì chúng tôi đã bị hải tặc Thái Lan bắt giữ từ lúc xế chiều. Chỉ với khẩu súng trường và vài cây mã tấu, chúng trói tất cả thanh niên, lột trần phụ nữ để cướp vàng bạc trước thái độ e dè của đám đàn ông. Ai cũng đói khát nên tinh thần bạc nhược thôi đành “bỏ của chạy lấy người”. Chúng vơ của xong là nổi thú tính vồ ngay lấy người.

 

Thương thay thân phận phụ nữ thân yếu, tay mềm. Đàn bà con gái ngay từ giây phút đầu đã hoảng loạn vì cảm thấy bị đe dọa tột cùng. Họ bốc rác rưởi, chất lỏng từ dầu máy trét lên mặt mũi, thân thể rồi ôm con nhỏ thu mình vào một góc kín để tránh ánh mắt của những tên hải tặc hình thù thô kệch giống như loài súc sinh quỷ dữ. Vừa chập tối, năm bảy cô gái bị bắt sang thuyền của chúng rồi trở thành vật liên hoan cho đêm hãm hiếp hội đồng.

 

Tôi may mắn ôm con thoát nạn. Núp ở thuyền bên này, nghe thấu nỗi lòng uất ức từ cảnh tượng hãi hùng qua tiếng gào thét ở thuyền bên kia. Các thiếu nữ dãy dụa khóc cha, gọi mẹ vọng lại giữa màn đêm u tịch. Mỗi lúc một yếu dần, rồi cuối cùng chỉ còn tiếng í ới nấc lên từng hồi, đứt đoạn vì đuối sức bởi bọn hải tặc Thái Lan thay phiên nhau hãm hiếp.

 

Thỏa mãn xong thú tính, bọn chúng kéo bốn thiếu nữ thân thể trần truồng về lại thuyền, da thịt trầy trụa, nhơ nhuốc với máu, tinh dịch và nước mắt như những cái xác không hồn nằm gục trên sàn tàu rồi chúng bỏ đi, bắt cóc số thiếu nữ còn lại mà từ đó chẳng ai biết số phận sống chết ra sao.


 

Câu Chuyện Thứ Hai :

 

Tên cầm dao găm, gương mặt đầy thẹo, đen đúa, râu ria lổm chổm dùng cánh tay mặt xốc tôi đứng lên khiến đứa bé đang được bồng khóc thét, đưa hai tay bấu chặt vào người tôi. Tên hải tặc có vẻ hơi nao núng, hắn đưa mắt thật nhanh nhìn đứa bé rồi quay lại. Thấy một phụ nữ ôm con quá dơ dáy, bẩn thỉu, trông thật gớm ghiếc nên buông tôi ra. Sau đó bọn chúng đi lùng sục khắp ghe và cuối cùng bắt được năm cô gái trẻ, sạch sẽ, xinh đẹp. Chúng lôi xềnh xệch về phía thuyền của chúng mặc kệ các cô gái vùng vẫy, kêu khóc thảm thiết cùng với tiếng van xin, gào thét của thân nhân kẻ bị nạn. Trong số các thiếu nữ bị chúng bắt mang theo có cô con gái chủ ghe mới 15 tuổi. Chiếc thuyền của bọn cướp hải tặc Thái Lan xa dần. Mọi người trên ghe vẫn còn sững sờ vì vừa trải qua một biến cố kinh hoàng. Những tiếng khóc của thân nhân các thiếu nữ bị bắt thật sầu thảm. Tôi không biết mình đang tỉnh hay đang mê ?  


 

Thưa bạn,

 

Trước khi đọc thêm những chuyện hãi hùng đó, tôi mời bạn mở đường link dưới đây để xem và cùng khóc thương cho những Thiếu Nữ Việt Nam đã chết do bọn hải tặc Thái Lan qua ca khúc và hình ảnh MẮT BIỂN.

Thơ : Trần Quốc Bảo

Nhạc : Văn Duy Tùng

Ca sĩ : Anh Dũng

Hình ảnh : Trúc Tiên

 

Xin bấm đường link sau đây : 

https://www.youtube.com/watch?v=GqbMtPg-Jq4&feature=youtu.be


 

NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN

 

Vào đầu thập niên Tám mươi, ông Ted Schweitzer là người Mỹ đầu tiên đã cập bến vào một đảo sào huyệt hải tặc và mục kích chuyện 238 thuyền nhân Việt Nam bị đắm ghe, dạt vào đấy. Có 80 người bị giết, tất cả các phụ nữ đều bị hãm hiếp và buộc khiêu vũ khỏa thân cho chúng xem. Ông Schweitzer can thiệp yêu cầu họ chấm dứt tấn tuồng vô nhân đạo này thì bị bọn cướp xúm lại đánh đập đến như gần chết. Thật may mắn mà ông còn sống sót để thuật lại. Khi tỉnh lại, ông thấy trước mắt những cánh tay, đùi chân còn rải rác đây đó. Đấy, bằng chứng có vụ ăn thịt người.

 

Cô Nguyễn Phan Thúy cùng với mẹ, dì và người em gái đã bỏ tiền ra mua chổ trên tàu để vượt trốn. Sau mười ngày lênh đênh trên biển cả, tàu bị mắt cạn, hết nước, hết cái ăn. Hải tặc đến bắn chết người dì. Một ông già có răng vàng bị chúng lấy kìm vặn khỏi miệng. Một người đàn bà đang có bầu bị chúng ném xuống biển. Các người sống sót bị chúng lột hết quần áo, xua cả lên bờ, và tầu bị nhận chìm. Chúng bắt các phụ nữ xếp hàng. Cô Thúy cùng một cô gái khác tên Liên bị chúng lựa ra rồi đưa sang chiếc thuyền đánh cá của chúng. Suốt ba tuần lễ sau đó, hai cô liên tiếp bị hảm hiếp. Cô Liên chịu không nổi, bị chúng chán rồi vứt cô xuống biển; còn cô Thúy thì chúng đem bán cho một động mải dâm trong làng mang tên là "Phòng đấm bóp nơi thiên đường". Ở đây cô mang thai và vị người ta lấy một que tre trục bào thai ra. Cuối cùng cô thoát được và được cơ quan Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc tiếp nhận.

 

Năm 1989, một chiếc ghe chở 84 thuyền nhân bị hải tặc đến cướp. Tất cả đàn bà và trẻ con bị chuyển qua thuyền hải tặc và từ đó không còn nghe một tin gì về số phận họ nữa. Những người đàn ông thì bị nhốt dưới khoang tầu rồi, từng người một, chúng lôi lên đập cho đến chết. Sau cùng, những người còn lại liều mình sấn vào bọn cướp thì tầu hải tặc nhào đến đâm vào tầu thuyền nhân cho chìm đi. Một số người cố thoát liền bị chúng dùng cây sào nhận chìm xuống nước. Còn lại 13 người thoát chết nhờ bơi ra xa và được bóng đêm che phủ.

 

 


 

Vào tháng 4 năm 1989, có bảy tên hải tặc trang bị súng ống, đao búa đến tấn công một chiếc tầu nhỏ chở 129 thuyền nhân. Tất cả đàn bà đều bị hãm hiếp, đàn ông bị sát hại, trừ một thiếu niên tên là Phạm ngọc Nam Hung (hình chụp ảnh đang nhận diện các tên hải tặc). Anh này sống sót nhờ bám được vào một chiếc bè kết thành bởi ba xác chết.

 

 

Thảm cảnh rùng rợn của người vượt biển trên Biển Ðông
 

Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển.


 

VỤ THỨ NHẤT: 87 người bị giết

 

NHÂN CHỨNG : Bà Nguyễn Thị Thương 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo sư Trần Quang Huy, phân khoa trưởng Văn Khoa Đại Học Saigon, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

 

Ghe mang số SS0646 IA dài 13 m 5, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01 tháng 12 năm 1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp ThaiLan cặp hai bên hông thuyền tị nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

 

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật qúy. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tị nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tị nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tị nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dục chết chìm.

 

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo sư TRẦN QUANG HUY. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

 

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm in lìm không nhúc nhích được nữa.
 

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tị nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tị nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

 

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ năm, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tị nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại TháiLan ra đón họ vào đất liền.

 

Không lâu sau đó Bà NGUYỄN THI THƯƠNG sinh thêm đứa con gái út trong trại tị nạn Song Khla. và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông TRẦN QUANG HUY. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà THƯƠNG đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

 

 

VỤ THỨ HAI: 70 thuyền nhân Việt nam tị nạn bị giết

 

NHÂN CHỨNG : Ông Vũ Duy Thái 44 tuổi, đi cùng vợ là Bà Đinh Thị Bằng 40 tuổi cùng 4 con và 2 cháu. Hiện chỉ còn mình Ông sống sót.

 

Ghe VNKG 0980 dài 14 m, bề ngang 2 m 2 chở 120 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 29 tháng 12, 1979. Lúc 7 giờ sáng ngày 31/12/1979 gặp tàu hải tặc Tháilan. Tàu này sơn màu đỏ cam, mang số 128 ở đầu mũi, gồm 12 tên cướp võ trang súng dài và dao, búa, rìu. Tàu của chúng phóng tới húc vào làm nứt bể mũi ghe tị nạn. Bọn hải tặc nhảy qua và lập tức phá máy ghe làm thủng thêm vết nứt, nước bắt đầu tràn vào. Bọn chúng lục soát chụp giựt đồng hồ, nhẫn vàng v.v... trong lúc nước nước tràn vào ghe của người tị nạn càng nhiều hơn và bắt đầu bị chìm dần sau khoảng 1 tiếng đồng hồ.

 

Khi ghe chìm hẳn, đàn bà, trẻ con la khóc hoảng hốt níu kéo lẫn nhau. Bọn cướp nhảy xuống biển và chỉ chọn lựa cứu các cô gái trẻ đẹp. Lúc đó tàu của bọn hải tặc neo đậu cách đó 50 m. Bọn cưới đã lôi kéo về tàu chúng 5 cô gái. Một số đàn ông và thiếu niên tị nạn biết bơi cũng lội về phía tàu của chúng và bám leo lên. Nhiều người bị xô đẩy xuống, nhưng vì chúng ít người nên cuối cùng còn 50 người sống sót leo lên được tàu của chúng kể cả 5 cô gái được chúng cứu trước đó. Những người này đã chứng kiến trước mắt 70 người còn lại bị chết chìm dần dần. Mọi người nhìn thấy những bàn tay chới với ngoi lên khỏi mặt biển rồi mất hút.

 

Ông Vũ Duy Thái rời Việt Nam cùng vợ và 4 con, 2 cháu. Riêng Ông trong lúc hỗn loạn đã bơi bám vào tàu hải tặc và níu được vợ và một đứa con. Còn 3 đứa con khác và 2 cháu thì bị chết chìm. Tuy nhiên vợ và đứa con còn lại của Ông đã bị uống nước quá nhiều, khi kéo lên được thì không còn nhúc nhích. Ông hi vọng dùng phương pháp hô hấp nhân tạo sẽ cứu sống được, nhưng bọn hải tặc đã quăng vợ và con Ông xuống biển trở lại cho chết luôn.

 

Anh Phạm Việt Chiêu, 26 tuổi là tài công kể lại chính anh và một số đàn ông khác còn khoẻ đã vớt được một số người chưa chắc đã chết hẳn mà có thể chỉ mới bị ngất xỉu nhưng bọn hải tặc đã bắt bỏ họ xuống biển lại. Sau đó tàu hải tặc trực chỉ đảo KO KRA và chúng giam giữ nạn nhân trên đảo 5 ngày mới được Ông SWEITZER Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc kịp thời đến đến cứu.

 

Ngày 1/1/1980, một chiếc tàu Hải quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang vũ khí. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thoát. Nhưng những người lính Hải quân chẳng chút thương tâm đoái hoài đến dân Việt tị nạn đang lâm cảnh khốn cùng, họ chỉ lo việc khám xét bằng cách bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái rồi bỏ đi.

 

Ngày 2/1/1980 một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân công khai trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét như để tìm vũ khí kẻ nào có giấu diếm? Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 4/1/1980 mới bỏ đi.

 

Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức 4 chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bốc nữa. Chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày.Chúng chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để làm hành động thú tính này. Năm em gái Việt Nam: KH 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NY 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người.
 

Lẽ ra, thảm kịch còn kéo dài chưa biết đến ngày nào chấm dứt, nếu không may mắn được vị cứu tinh là Ông SCHEITZER Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc xuất hiện kịp thời cứu giúp và kết thúc thảm ác trạng này. Ông đã đến đảo KRA trên một chiếc tàu Cảnh Sát Thái lan.


 

VỤ THỨ BA: Hải tặc Thái bắt gái VN bán vô ổ điếm

 

NHÂN CHỨNG : Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 tuổi đi cùng chị là Bà Nguyễn Thị Năm bà này đã bị hải tặc giết trước đó và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ kiều 17 tuổi.

 

Ghe không số, dài 10 m, chở 78 người, khởi hành tại NhaTrang ngày 08/12/1979. Ra khơi được 3 ngày thì hết nhiên liệu và thực phẩm, thuyền lênh đênh trên biển trong 10 ngày. Thời gian này có 12 trẻ em đã bị chết vì đói khát. Thi thể các em phải bỏ xuống biển. Đến ngày 21/12/1979 gặp 2 tàu hải tặc Tháilan. Bọn cướp buộc giây vào ghe VN với tàu của chúng, dùng vũ khí ép buộc tất cả mọi người qua tàu chúng để lục soát.

 

Bà Nguyễn Thị Năm 33 tuổi đang mang thai 5 tháng, đi cùng chồng là Ông Lê Văn Tư và 3 đứa con 9 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi. Cả 3 đứa trẻ này đã chết trong thời gian 10 ngày ghe bị trôi lênh đênh trước đó. Bà NĂM quá đau khổ và mệt mỏi không còn đủ sức leo qua tàu hải tặc khi chúng ra lịnh. Bọn cướp đã xốc nách Bà lên nhưng Bà vẫn nằm im, một tên cướp liền dùng xẻng xúc cá đập túi bụi vào đầu Bà NĂM. Bà đã bị nứt sọ chết ngay tại chỗ và nó xô xác Bà xuống biển.

 

Mọi người kinh hoảng vội leo sang tàu hải tặc để cho chúng có chỗ trống lục soát, phá phách, xét quần áo, thân thể tìm đồ qúy. Sau đó tất cả đàn ông bị bắt nhốt vào hầm nước đá, đàn bà chúng cho ở trên sân tàu để sờ mó nghịch ngợm. Rồi chúng lùa thuyền nhân tị nạn qua trở lại chiếc ghe đã thủng nát. Khi đến ghe thì một người đàn ông đã chết vì đã bị giam giữ trong hầm nước đá lạnh cóng. Chiếc ghe tị nạn lại tiếp tục thả trôi lênh đênh trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của mọi người.

 

Ngày hôm sau, hai chiếc tàu hải tặc khác lại đuổi theo, tới gần vùng đảo KO KRA chúng lại lên ghe lục soát cướp bốc. Lần này 3 thiếu nữ xinh đẹp nhất bị chúng bắt đem đi. Con thuyền tị nạn lại tiếp tục trôi trong tình trạng vô cùng bi đát. Máy ghe bị hư hỏng, không thức ăn, nước uống và ghe thì đã ngập nước vì lúc đó tất cả đàn ông đã quá đói khát không còn đủ sức tát nước nữa. Không ai biết số phận 70 người còn lại trên chiếc ghe khốn cùng đó, lúc này ra sao?

 

Hai chiếc tàu hải tặc chia nhau 3 cô gái VN. Hai cô N.T. Ánh Tuyết và Mỹ Kiều bị chiếc tàu của tên SAMSAC làm chủ bắt giữ. Còn chiết tàu kia bắt Cô LAN 17 tuổi mang đi mất hút, cho tới bây giờ không còn nghe tin tức gì về Cô ấy nữa. Hai cô ÁnhTuyết và Mỹ Kiều bị bọn SAMSAC mang vào đất liền, nhốt trong một khách sạn tại Songkhla. Chúng tách rời hai cô ở phòng riêng khác nhau. Ánh Tuyết bị một tên, được nghe gọi là BÍT canh chừng. Còn Mỹ Kiều thì ở chung phòng với tên SAMSAC.

 

Ánh Tuyết kể lại là Cô đã la hét kêu ầm lên khi tên BÍT định cưỡng hiếp Cô, khiến mọi người ở các phòng chung quanh cùng khác sạn đa số là người Tây Phương đổ xô tới xem và tên BÍT đã bỏ chạy. Riêng tên SAMSAC ở phòng gần đó nghe tiếng ồn ào vội đem Mỹ Kiều đi giấu trong một khách sạn khác ở tỉnh Haadyai cách Songkhla hơn 30 Km. Khi cảnh sát đến điều tra, chính cô Ánh Tuyết đã dẫn CảnhSát đến bến tàu Songkhla, nơi có chiếc tàu của bọn SAMSAC vẫn còn đậu đó và các thủ phạm hải tặc đã bị bắt kể cả tên SAMSAC mà Cảnh sát đã tìm thấy hắn sau đó cùng với Cô Mỹ Kiều tại khách sạn nói trên.

 

Tại Ty Cảnh Sát chúng đã khai là định bán hai Cô gái này cho một đường giây chuyên buôn gái cho các ổ điếm.


 

Thưa bạn,

 

Sau khi đọc những câu chuyện hải tặc Thái Lan, tôi tự hỏi để rồi tìm hiểu về Người Thái Lan: dân tộc, văn hóa và tôn giáo…, nhất là niềm tin và các ngày lễ truyền thống, cúng lạy với khói hương nghi ngút trong các chùa chiền, am miếu… Một quốc gia mà có đến 99 phần trăm người dân chỉ theo một tôn giáo. Nhưng cuối cùng và thú thật với bạn rằng, tôi cũng không có câu trả lời cho chính mình là: vì sao hải tặc Thái Lan, trong đó cũng có các đội cảnh sát đường biển lại gian ác kinh khủng và nhẫn tâm với dân của tôi đến thế?

 

Xin cám ơn bạn đã đọc bài viết của tôi !


 

Văn Duy Tùng

vanduytung1@gmail.com

Tác giả: Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!