Chuyên mục
“Huế - Sàigòn –
Hànội”:
Tiến sĩ Tâm Lý Trần Mỹ Duyệt
Kính mời theo dõi video tại đây:
https://bit.ly/3Aka9ib
Hơn 50 năm trước, những từ ngữ như ly dị, ngừa thai, phá thai,
đồng tính là những gì nghe rất xa lạ, khó hiểu, và nhậy cảm. Chúng ít được đề
cập tới, và nếu có thì cả người nói lẫn người nghe đều rất dè dặt, kín đáo. Tóm lại, đây là những
từ ngữ cấm kỵ dưới ảnh hưởng văn hóa và đạo đức xã hội. Nhưng khi những từ ngữ
này được nghe, được nói và được truyền đạt một cách rộng rãi, thì kéo theo những hệ quả
hết sức tai hại: nhiều gia đình đổ vỡ vì ly dị. Nhiều trẻ em bị giết hại do ảnh
hưởng của phá thai. Số người, kể cả tuổi trẻ tự nhận mình là đồng tính và
chuyển giới gia tăng. Thêm vào đó, các phong trào tự do, bình quyền, và phụ nữ cũng
được ủng hộ và phổ biến một cách cuồng nhiệt. Và cuối cùng là phong trào chuyển
giới.
Những diễn tiến trên thực ra không gì khác hơn là một cuộc “cách mạng” văn hóa và
luân lý, một cuộc chiến sinh tử
giữa lành và dữ, giữa tội lỗi và thánh thiện, giữa thiện và ác, mà trọng tâm
của nó chính là những giá trị của con người và hạnh phúc của hôn nhân gia đình. Chị Lucia, một trong ba
thụ nhân chứng kiến phép lạ Fatima đã nói về vấn đề này trước khi qua đời: “Trận chiến sau cùng giữa
Thiên Chúa và Satan là trận chiến gia đình.” Tại sao?
TRẬN CHIẾN GIA ĐÌNH
Từ suy luận mang tính tâm linh, chúng ta biết rằng mục đích
chính của Satan là bằng mọi cách làm mất đi hình ảnh ban đầu của con người được Thượng Đế yêu
thương mang hình ảnh Ngài. Một tạo vật mà Ngài phải suy nghĩ trước khi tạo nên nó: “Rồi Thượng Đế nói,
“Chúng ta hãy tạo nên con người mang hình ảnh của chúng ta…” (Gen 1:16). Và Ngài đã dựng nên họ “có
nam, có nữ” (27).
Họ là những con người nguyên thủy đã được chính Thượng Đế sáng tạo.

Ai cũng biết sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ là hình mẫu của hôn
nhân. Một trong những mục
đích và kết quả của nó là những đứa con. Định luật này cũng chính do Thượng Đế
đã thiết lập: “Hãy sinh sản ra nhiều mặt đất và hãy thống trị trái đất.” (Gen 1:28) Tuy
nhiên do con người, đúng ra là do sự ghen tỵ và thù hận của Satan, đã làm hỏng
hoặc sai lạc đi những gì tốt đẹp mà Thượng Đế đã an bài. Để phá vỡ chương trình
ấy, trước hết Satan cố tình gây ra những khủng hoảng, những xung đột, những
khó khăn trong đời sống hôn nhân dựa trên những khác biệt về thể lý, tâm lý nam
nữ, văn hóa, giáo dục, và ngay cả ảnh hưởng tôn giáo để chia rẽ, tạo nên “những
xung khắc không thể hòa hợp” (Irreconcilable Differences) mà kết
quả sau cùng là đổ vỡ.
Với những cặp vợ chồng cố gắng thực thi đời sống hôn nhân, thì
tư tưởng ngừa
thai và phá thai là những cám dỗ. Cũng như ly dị, ngừa thai, phá thai chính là những cạm bẫy vô
cùng tinh vi nhằm phá vỡ hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc hôn nhân, hạnh phúc gia
đình. Phá thai đối với những cặp vợ chồng hoặc những đôi trai gái không sống
trong đời sống hôn nhân là một hành động coi thường, hạ nhục hành động ân ái,
và giá trị sự sống. Những luận điệu như quyền sinh sản, quyền nữ giới, quyền chọn
lựa của người phụ nữ là những chiêu bài đang được truyền thông cực đoan phổ
biến một cách hết sức rộng rãi. Nó cũng được những người cấp tiến ủng hộ. Sự
ủng hộ này gần đây còn được chính trị hóa, và do đó, càng trở nên mạnh mẽ.

Loại bỏ khả năng sinh sản khỏi hôn nhân và cơ thể do nền
văn hóa phương Tây và việc kỹ thuật số hóa căn tính đã cổ vũ các phương tiện
ngừa thai, làm cho những người trẻ tuổi không còn chú trọng vào bản sắc của họ
nữa. Nhất là đối với những người tự cho mình là người chuyển giới, những người
lưỡng giới, hoặc lưỡng tính có cơ hội để khỏa lấp những đòi hỏi mà họ cho rằng
đang kìm hãm con người thực của mình. Dường như có một điều gì đó giống như một
căn bệnh xã hội lây lan của ý thức hệ phái tính, nhất là đối với những người
trẻ đang đấu tranh với căn tính của họ vì những lý do khác ngoài sự không hài
lòng với phái tính của mình.
Song song với những phong trào ly dị, ngừa thai, phá thai, tiếp
đến gần đây hơn là trào lưu đồng tính, hôn nhân đồng tính và chuyển giới. Đây
được coi là những thành quả đưa đến sự vong thân về giới tính (sex) và
phái tính (gender) đối với tuổi trẻ. Hội chứng “không hài lòng với
phái tính” (gender dysphoria) là bước đầu được
khai thác để dẫn đến hành động chuyển giới (transsexual). Đặc biệt, phong trào chuyển giới hiện nay đang được xã hội nâng
đỡ do các phương tiện y khoa nghiên cứu, ứng dụng, do việc chích thuốc chuyển
giới, đến việc cung cấp các dịch vụ tâm lý chuyển giới. Một người muốn nói về
giới tính của mình, muốn trở thành một người chuyển giới (transgender
person) từ nam thành nữ, trai thành gái, hoặc gái thành trai, nữ thành
nam ngày nay không còn gặp những khó khăn, cấm đoán như trước đây. Tất cả
được cho là chọn lựa riêng tư, được hỗ trợ bởi tâm lý, tâm thần, và y khoa. Xã hội với những
phương tiện truyền thông đang cố gắng khuynh loát bằng những lý thuyết trái
chiều, những hình ảnh đầy hấp dẫn hầu đưa đến sự chấp nhận một cách dễ dãi
những con người và quan niệm sống như thế.
Đồng tính (hommosexual), hôn nhân đồng tính (same-sex marriage) và chuyển giới là hướng tiến cuối cùng
nhưng độc hại, nguy hiểm nhất mà Satan và những kẻ tiếp tay với hắn đang cố
gắng dùng để phá vỡ hình ảnh và chương trình của Thượng Đế về một người nam hay
nữ mang hình ảnh của Ngài, về mô hình của một gia đình do Ngài thiết lập, và
những dự tính tốt đẹp mà Ngài dành cho gia đình ấy. Ảnh hưởng của nền văn
hóa sự chết (St. John Paul II) này đang lan tràn sâu rộng và thấm nhập rất mạnh
mẽ trong quan niệm và đời sống của giới trẻ.
Những khảo cứu gần đây cho thấy xu hướng đồng tính và chuyển
giới đang được giới trẻ đón tiếp một cách cởi mở và hào hứng nhờ sự tiếp sức loan truyền
và phổ biến của truyền thông, của những phong trào và đoàn thể chính trị. Với cái nhìn về lịch
sử, việc chuyển đổi phái tính là một hiện tượng hiếm hoi. Thoạt đầu nó chỉ bắt
đầu, phần lớn nam giới ở tuổi trung niên, nhưng trong thập niên vừa qua, dưới
ảnh hưởng của nhân khẩu học, quan niệm này đã thay đổi, ảnh hưởng mạnh đến nữ
giới, và tuổi trung bình đã giảm nhanh xuống dưới tuổi vị thành niên. Số người tìm cách điều trị hội
chứng “không hài lòng với phái tính” đã tăng nhanh
- đặc biệt là ở những người trẻ tuổi. Thống kê cho thấy:
Tại Anh, số người trẻ muốn chuyển giới đã tăng gần 1,900%
từ năm 2010 đến năm 2020.
Tại Mỹ, một nghiên cứu năm 2022 của Viện Williams cho thấy
43% những người được chuyển giới là dưới 25 tuổi. Việc chuyển giới ở nhóm tuổi này đã tăng gấp đôi kể từ báo
cáo cuối cùng được công bố năm 2017.
Tại Âu châu, các quốc gia như Tân Tây Lan, Phần Lan, Gia
Nã Đại và Hòa Lan cũng ghi nhận mức độ gia tăng tương tự ở những người trẻ về
hội chứng “không
hài lòng với phái tính” (gender
dysphoria), và việc tìm cách chuyển đổi giới tính. [Making sense of sex,
gender, and trans issues - The Pillar. https://www.pillarcatholic.com ›
making-sense-of-sex-gen...]
Hiện tượng này cũng bắt đầu thấy xuất hiện nở rộ tại Việt
Nam qua những chương trình giải trí - đúng hơn - là quảng cáo cho cái gọi là “Xuất hiện công khai” (come out). Trong khi giới trẻ háo
hức theo dõi, bắt chước, thì giới phụ huynh lại lo lắng, hoang mang. Làm gì bây
giờ? Bảo thủ cũng không
được mà tự do chấp nhận cũng không được. Còn hành động trung dung? Tìm đâu ra
những hướng dẫn cần thiết trong lãnh vực giáo dục, tâm lý, và luân lý. Phụ
thuộc vào nhà trường? Lắng nghe truyền thông? Tin tưởng vào dư luận và hướng
dẫn của dư luận? Hoàn toàn sai lầm, vì tất cả đang chạy theo khuynh hướng thời
thế. Dựa vào niềm tin?
Nhưng niềm tin nhiều lúc cũng đang gặp thử thách. Con người ngày nay đang sống
theo sự hướng dẫn của lương tâm sai lạc, một nền đạo đức tương đối (Realism). Tóm lại, đây là
vấn đề thời đại, và là vấn đề nhức nhối.
VONG THÂN
Ngày nay nhiều người, nhất là giới trẻ đang đi vào con
đường vong
thân, chối bỏ nguồn gốc và bản sắc con người của chính mình. Những từ ngữ như phái
tính, giới tính và chuyển giới đối với những người này được cho như những khám phá mới mẻ, văn minh
và khoa học. Nhưng thực sự có lẽ hầu hết họ không hiểu những thứ này là gì ngay đối với chính con
người và bản thân của họ.
Theo Từ Điển Tiếng Việt, giới tính (Sex) được định nghĩa là: Đặc điểm của cơ thể và
tâm lý làm cho hai phái nam và nữ hoặc giống đực và giống cái có chỗ khác biệt với
nhau. [Từ Điển Tiếng Việt.
Nhà Xuất Bản Hồng Phúc.] Trong khi đó, phái tính gồm cấu trúc con người được nhận
diện như thế nào. Không giống như giới tính được cấu tạo do những khác biệt thể
lý và tâm lý. Phái tính là một phân loại tổng quát, từ đó, một người được phân
loại là đàn ông hay đàn bà. Như vậy, khi một người hay một em rơi vào
trạng thái vong thân về chính con người của mình, có nghĩa là người đó hoặc em
đó đang từ chối, đang phủ nhận chính con người và bản sắc của mình.
Những câu hỏi tôi là ai? Là trai hay gái? Là đàn ông hay đàn bà?
Tình cảm của tôi đối với người khác phái lúc này như thế nào? Nhu cầu tâm sinh
lý, những khát khao về tình yêu, tình dục của tôi bảo cho tôi biết mình là đàn
ông hay đàn bà, con trai hay con gái? Sự thu hút của tôi đối với người khác
phái ra sao? Thực chất tôi là một người con trai trong hình hài một người con
gái? Hoặc ngược lại, tôi là một cô con gái trong hình hài của một người con
trai? Làm sao chứng minh, phân tích được những khắc khoải này theo cơ thể học,
sinh vật học, tâm lý học, hay đạo đức học? Làm sao chứng minh được hội chứng hoài nghi về con
người của mình? Nếu
quả thật tôi là người đồng tính, bị thôi thúc bởi tình yêu đồng tính, bởi ý
nghĩ chuyển giới như vậy, tôi phải làm gì? Chọn sống thật với giới tính của
mình, chọn giải pháp chuyển giới hay chấp nhận dồn nén của mình như hiện có.
Những suy nghĩ và những câu hỏi trên, cũng như rất nhiều các câu
hỏi khác liên quan đến vấn đề đang làm cho đời sống giới trẻ ngày nay đi vào
khủng hoảng, và kéo theo những thế hệ kế tiếp sống như những con người đang
đánh mất chính bản thân, không biết mình như thế nào và là ai? Điều này sẽ kéo theo
sự băng hoại của cấu trúc gia đình, xã hội, định nghĩa hôn nhân, vai trò và
trách nhiệm người chồng, người vợ, cũng như người cha, người mẹ trong việc sinh
sản và giáo dục con cái.
NHẬN ĐỊNH CHUYÊN MÔN
Tháng 7 vừa qua, Charlie Camosy, giáo sư thần học và đạo
đức xã hội của Đại Học Fordham, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn với
hai học giả hàng đầu về phái tính, giới tính và những gì đang xảy ra trên toàn
xã hội và thực hành y tế là: Abigail Favale, Ph.D., nhà văn, giáo sư tại Viện
McGrath về Đời Sống Giáo Hội tại Đại Học Notre Dame, và là người trở lại đạo
Công Giáo, và John Grabowski, Ph.D., giáo sư thần học luân lý tại Đại Học Công
Giáo America, chuyên về nhân chủng thần học, đạo đức học nhân đức, hôn nhân và
tính dục. Cuộc phỏng vấn này được phổ biến trên The Pillar (The Pillar is an
American news website focusing on the Catholic Church. The site's stated
mission is to “do serious, responsible, sober journalism about the Church, from
the Church, and for the Church”.
Theo 2 vị giảng sư này các vấn đề đang gây tranh cãi hiện nay về
giới tính, phái tính, và chuyển giới đã trở thành những chủ đề được nói đến và bàn luận
nhiều nhất hiện nay. Mặt khác nó cũng là những vấn đề phức tạp và nhậy cảm; đặc
biệt, với sự gia tăng của phong trào quyền của người chuyển giới, với ảnh hưởng
của xã hội và chính trị, cùng với sự bùng nổ về số lượng thanh niên tự nhận mình ở bên ngoài
“giới tính nhị phân”. [Making sense of sex, gender, and trans issues - The Pillar https://www.pillarcatholic.com
› making-sense-of-sex-gen...]
Những xu hướng mới:
Một số xu hướng mà theo Tiến Sỹ Abigail Favale có thể
giúp chúng ta hiểu tầm quan trọng của vấn đề này đó là: sự cộng tác và phổ
biến của các cơ sơ truyền thông, sự công nhận của nhiều người nổi tiếng, học
giả và các cơ quan pháp luật. Liên Hiệp Quốc cũng đang xem xét việc thông qua các hiệp ước sẽ
công nhận hơn 100 phái tính. Ngoài ra, trong lãnh vực y khoa, người ta đang cố
gắng nghiên cứu những phẫu thuật nhằm thực hiện các ca đổi giống, các hóa chất
làm giảm căng thẳng về sự hiểu nhầm giới tính trong lãnh vực tâm
lý.
Đối với Tiến Sỹ Grabowski, một điều xem như nghịch lý xét về mặt
tâm sinh lý, đó là hầu hết trẻ em (khoảng 80 %) từng trải nghiệm triệu chứng
không hài lòng với phái tính đã tự hết lúc trưởng thành. Kết quả đang chứng
minh rằng không dùng thuốc để chữa trị hội chứng này đã được đa số các tổ chức
tâm lý và y tế tán thành trong thời gian gần đây. Đặc biệt, tại Thụy Điển -
quốc gia tiên phong tiến bộ trong việc khẳng định phái tính - hiện đang ưu tiên hóa các chương
trình trị liệu tâm lý hơn là kích thích tố.
Ông cũng lưu ý đến một nhận xét khác, đó là, trên khắp
Châu Âu, như Phần Lan, Pháp và Anh, kể cả báo cáo của Thụy Điển cũng ghi nhận
ngày càng có nhiều người “hoàn phái tính”, những người bắt đầu con đường chuyển
giới bằng y khoa nhưng sau đó thay đổi ý định, và ở những người này thường để lại các tổn
thương về mặt thể lý không thể sửa chữa.
Ảnh hưởng tiêu cực:
Nhưng liệu chúng ta có mang tiếng “giết người chuyển
giới theo nghĩa đen,” Charlie Camosy đã hỏi hai học giả nếu làm ngơ
trước phong trào chuyển giới, thay đổi giới tính hiện nay không?
Tiến Sỹ Favale đã tỏ ra rất quan tâm về vấn đề này.
Theo bà, ngày càng có nhiều lo ngại rằng thế giới đang áp dụng những
phương pháp triệt sản và y khoa hóa các người trẻ đồng tính một cách vô trách
nhiệm. Bà cho rằng, có một tỷ lệ hoàn giới (đổi ý tưởng chuyển giới) cao của
hội chứng không hài lòng với phái tính khởi phát từ lúc còn nhỏ. Một số trẻ em
này lớn lên trở thành đồng tính nam. Nhiều người đồng tính lớn tuổi biểu lộ
hành vi không phù hợp phái tính lúc thơ ấu.
Nhờ vào kết quả của cuộc nghiên cứu dài hạn dựa trên dân số,
chúng ta biết thêm rằng con số tự tử tăng gấp 19 lần sau các thủ tục xác định lại giới
tính -
và điều này phát xuất từ Thụy Điển. Ngoài ra, thanh thiếu niên LGBT + có nguy
cơ mắc nhiều bệnh tâm thần và tự tử cao hơn.
Tuổi trẻ ở một khía cạnh nào đó, theo Tiến Sỹ Favale, đã
trở nên nạn
nhân với các phương pháp thử nghiệm đầy rủi ro. Thí dụ, các em gái ở
độ tuổi mười ba đang giải phẫu cả hai vú. Các thiếu niên có thể tới các phòng
khám của Planned Parenthood và bắt đầu sử dụng kích thích tố
chuyển giới mà không cần sự giám sát của bác sĩ.
Tiến Sỹ Grabowski cũng đã nêu lên những bằng chứng
đáng kể cho thấy các thủ thuật chuyển giới như dùng hóa chất và phẫu thuật đơn
giản không phải là một chọn lựa y khoa tốt. Thí dụ, sử dụng thuốc chặn tuổi dậy
thì (puberty blocker) có liên quan tới việc mất mật độ
xương (bone density), tăng trưởng còi cọc, vô sinh và kém phát
triển của mô sinh dục [Mayo Clinic, 2022; Carmichael và cộng sự, trang 40]. Các chương trình hỗ
trợ các phương pháp chuyển giới cũng thừa nhận một số tác dụng phụ có thể gây
ra do dùng kích thích tố, như giảm chức năng tình dục, đau vùng xương chậu, vô
sinh, và có thể dẫn đến các vấn đề tim mạch như tăng huyết áp, tăng nguy cơ
nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Tóm lại, theo những học giả trên, và căn cứ vào các tài liệu
khoa học hiện nay đã không ủng hộ chủ trương cho rằng các thủ thuật chuyển giới có
lợi cho bệnh nhân. Năm 2016, Trung Tâm Dịch Vụ Medicare & Medicaid của chính
phủ Obama đã xuất bản một bản ghi nhớ kết luận rằng, dựa trên các nghiên cứu
hiện có, không có bằng chứng về những thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng sau các
thủ thuật chuyển giới.
Cái nhìn của các học giả:
Liên quan đến những khía cạnh lịch sử, văn hóa và triết
học, Tiến Sỹ Grabowski đã trình bày một số điều về sự pha trộn độc hại
của các nền triết học hiện đại đã giúp hình thành ý thức hệ này. Thí dụ, việc xóa bỏ bản chất con người
và gia đình do
chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa Mác gây ra.
Những điều này đã có ảnh hưởng rộng rãi trong nền văn hóa của
chúng ta, nơi mà gia đình và bản sắc cá nhân đã bị phá vỡ bởi những thay đổi có
tính địa chấn của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Cách Mạng Tình Dục, và Cách Mạng Kỹ
Thuật đang diễn ra xung quanh chúng ta. Ông cũng cho rằng, các kỹ thuật ngừa
thai hiện đại - một hình thức - Cách Mạng Tình Dục đã loại bỏ khả năng sinh sản
vốn có đó ở trung tâm của sự khác biệt giới tính khỏi cả hôn nhân lẫn bản thân,
khiến cơ thể không còn cùng đích (telos).
Thêm vào đó, ý tưởng cho rằng cơ thể chỉ đơn giản là một màn
hình để chiếu căn tính lên trên và nếu nhận thấy bản sắc cá nhân và cơ thể
không phù hợp, nó có thể được sửa chữa bằng tiến trình chuyển giới, như hóa chất và phẫu thuật, là một triết lý vong thân
về giá trị phái tính và con người.
Với Tiến Sỹ Favale, bà nghĩ rằng điều quan trọng là
phải chống lại một cuộc cách mạng song phương giữa trí tưởng tượng văn hóa và
điều kiện vật chất: cuộc cách mạng khái niệm và cuộc cách mạng ngừa thai.
Đầu tiên nó bắt nguồn từ những khái niệm trước những năm 1950.
Theo đó, “phái tính” là một từ được nhà tâm lý học John Money mượn để giải
thích giả thuyết về căn tính của chúng ta như con trai và con gái. Ông đã phân
biệt giữa phái tính, là một cơ cấu xã hội và “giới tính”, là một cơ cấu sinh
học.
Vào những năm 1970, các nhà duy nữ (feminists) đã dựa sự phân
biệt giới tính / phái tính này như một định chế xã hội. Tiếp theo nhà lý thuyết
hậu hiện đại Judith Butler cho rằng bản thân giới tính, chứ không phải chỉ giới
tính, là một cơ cấu xã hội - tất cả các nỗ lực phân loại hoặc thêm ý nghĩa cho
các đặc điểm sinh học căn bản là vấn đề quyền lực xã hội hơn là kiến thức.
Theo Tiến Sỹ Favale, lý thuyết của Butler đã thách
thức ý niệm giới tính nhị phân, và bây giờ chúng ta gặp một sự đảo ngược kỳ lạ
về phái tính. Nó được định nghĩa như một cảm nhận của một người về bản thân mình như đàn bà, đàn ông, mà
không phải là đàn ông hay đàn bà bẩm sinh và có thật. Trong khi giới tính
được xem như một cấu trúc hay hư cấu có thể thay đổi được.

Cuộc cách mạng khái niệm diễn ra song song với việc chấp nhận và
sử dụng các biện pháp ngừa thai rộng rãi. Và ngừa thai đã thay đổi đáng kể các
thực hành, chuẩn mực, kỳ vọng về tình dục của chúng ta - và quan trọng nhất,
dẫn đến nhận thức chung cho rằng “đàn bà” và “đàn ông” trong căn bản được định
nghĩa bằng tiềm năng sinh sản bẩm sinh. Điều này đã đánh mất đi ý thức bản năng
về nam và nữ với những chức năng khác nhau trong việc sinh sản, thay vào đó,
phái tính là về ngoại hình, phát biểu và vai trò xã hội như chúng ta thấy hiện nay.
Thêm vào đó, một số nhân tố quan trọng khác thúc đẩy hiện tượng
chuyển giới bao gồm môi trường trực tuyến ba chiều (immersive) và
vô thần (disembodied) của nền văn hóa tuổi trẻ phương Tây,
cộng thêm ảnh hưởng tràn lan của văn hóa khiêu dâm đối với quan niệm về ý nghĩa
của việc là đàn ông, đàn bà và của cơ thể có giới tính của chúng ta.
KẾT LUẬN
Thật ra, không có một giải pháp đơn giản nào có thể
giải đáp được toàn bộ hiện tượng vong thân phái tính, giới tính và chuyển giới
như hiện nay. Cũng chưa có câu trả lời nào thỏa đáng được những câu hỏi liên
quan đến các vấn đề này. Một phần cũng là do sự chấp nhận ngày càng rộng rãi của xã hội đối với những người tự
xác định mình thuộc cộng đồng đồng tính, lưỡng tính, ái nam ái nữ, và chuyển
giới LGBTQIA + .
Cộng thêm vào những phức tạp đó là việc loại bỏ khả năng sinh
sản khỏi hôn nhân và cơ thể do nền văn hóa phương Tây và các phương tiện ngừa
thai, phá thai đang làm cho những người trẻ tuổi không còn đặt trọng
tâm vào căn tính, bổn phận và sứ mạng của họ nữa. Cách riêng đối với
những người tự nhận mình là người chuyển giới, lưỡng tính, hoặc phái tính hay
giới tính kỳ dị.
Tất cả như một căn bệnh xã hội lây lan của ý thức hệ phái
tính. Nó thôi thúc những người trẻ đấu tranh cho những gì mà họ cho là không
hợp về phái tính và giới tính. Đối với giới trẻ, phần lớn điều này là kết quả
đến từ việc tiếp xúc với ý thức hệ phái tính thông qua các nhóm đồng lứa, cũng
như các phương tiện truyền thông. Hiện tượng này mang tên: “Rối loạn phái tính xuất
hiện ở tuổi dậy thì hoặc sau tuổi dậy thì” (rapid onset gender dysphoria)
Tuổi thiếu niên là khoảng thời gian đầy sóng gió và khó khăn đối
với hầu hết mọi người. Cơ thể của tuổi trẻ đang thay đổi nhanh chóng như đang cưỡi một cơn sóng thần
kích thích tố. Nó kích thích những thử nghiệm và vượt qua mọi ranh giới.
Tuổi thiếu niên cũng là một giai đoạn phát triển khi các mối
quan hệ đồng trang đồng lứa trở nên quan trọng và có ảnh hưởng lớn. Ngoài ra,
thế giới cũng đang chứng kiến cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần ngày càng gia
tăng ở những người trưởng thành trẻ tuổi.
Nhưng dựa theo ý kiến của các học giả, hành động chối bỏ
phái tính, chối bỏ giới tính chỉ là một cuộc chạy trốn song song khỏi tư cách
nam giới. Ai còn muốn lớn lên trở thành một người đàn ông, nếu nam giới mất đi
đặc tính chinh phục?

Chúng ta đang rất cần những cuộc khảo cứu nghiêm chỉnh và khách
quan có tính cách tích cực hầu giúp cho việc phát triển phái tính, những nghiên cứu chống lại
những định kiến và chỉ ra tính cách đa dạng để sống thực với giới tính một cách
có ý nghĩa. Trong khi chờ đợi những kết quả khảo cứu thuộc các lãnh vực khoa
học, tâm lý và xã hội, điều cần thiết nhất lúc này là trở về với nguyên mẫu
của con người đã được Thượng Đế tạo dựng, đó là đàn ông và đàn bà, nam và nữ.
Đồng thời sống hôn nhân theo mô hình và mục đích mà Thượng Đế đã thiết lập: một
đàn ông kết hợp với một đàn bà. Sinh con cái và làm cho đời sống hôn nhân phong
phú trong yêu thương. Đây cũng chính là một phương pháp tâm lý trị liệu hữu hiệu cho
căn bệnh xã hội về vong thân phái tính, giới tính, đồng tính và chuyển giới: “Thượng Đế đã tạo dựng
con người theo hình ảnh Ngài, trong hình ảnh Ngài, Thượng Đế đã tạo nên họ có
nam và có nữ. Và Ngài chúc phúc cho họ.” (Gen 1:27, 28)
Trần Mỹ Duyệt
Hẹn
gặp lại