Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng

BBT CGVN YouTube
Thánh Kinh Công Giáo
Cầu nguyện bằng email
Hội Đồng Giám Mục VN
Liên Lạc

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Học Hỏi Kinh Thánh

Lớp KT Sr Cảnh Tuyết

Nova Vulgata

Sách Bài Đọc UBPT

GH. Đồng Trách Nhiệm

Video Giảng Lời Chúa

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Các Tác Giả
  Augustinô Đan Quang Tâm
  Ban Biên Tập CGVN
  Bác sĩ Ng Tiến Cảnh, MD.
  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
  Bùi Nghiệp, Saigon
  Br. Giuse Trần Ngọc Huấn
  Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh
  Dã Quỳ
  Dã Tràng Cát
  Elisabeth Nguyễn
  Emmanuel Đinh Quang Bàn
  EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.
  Fr. Huynhquảng
  Gia Đình Lectio Divina
  Gioan Lê Quang Vinh
  Giuse Maria Định
  Gm Phêrô Huỳnh Văn Hai
  Gm. Giuse Đinh Đức Đạo
  Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
  Gm. JB. Bùi Tuần
  Gm. Nguyễn Thái Hợp, op
  Gm. Phêrô Nguyễn Khảm
  Gs. Đỗ Hữu Nghiêm
  Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
  Gs. Lê Xuân Hy, Ph.D.
  Gs. Nguyễn Đăng Trúc
  Gs. Nguyễn Văn Thành
  Gs. Phan Văn Phước
  Gs. Trần Duy Nhiên
  Gs. Trần Văn Cảnh
  Gs. Trần Văn Toàn
  Hồng Hương
  Hiền Lâm
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Huệ Minh
  HY. Nguyễn Văn Thuận
  HY. Phạm Minh Mẫn
  JB. Lê Đình Nam
  JB. Nguyễn Hữu Vinh
  JB. Nguyễn Quốc Tuấn
  Jerome Nguyễn Văn Nội
  Jorathe Nắng Tím
  Jos. Hoàng Mạnh Hùng
  Jos. Lê Công Thượng
  Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
  Joseph Vũ
  Khang Nguyễn
  Lê Thiên
  Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, HKK
  Lm. Anmai, C.Ss.R.
  Lm. Anphong Ng Công Minh, OFM.
  Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế op.
  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  Lm. Đan Vinh, HHTM
  Lm. Đỗ Vân Lực, op.
  Lm. G.Trần Đức Anh OP.
  Lm. GB. Trương Thành Công
  Lm. Giacôbê Tạ Chúc
  Lm. Gioan Hà Trần
  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
  Lm. Giuse Lê Công Đức
  Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
  Lm. Inhaxio Trần Ngà
  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
  Lm. JB Trần Hữu Hạnh fsf.
  Lm. JB. Bùi Ngọc Điệp
  Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
  Lm. Jos Đồng Đăng
  Lm. Jos Cao Phương Kỷ
  Lm. Jos Hoàng Kim Toan
  Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
  Lm. Jos Nguyễn Văn Nghĩa
  Lm. Jos Phan Quang Trí, O.Carm.
  Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn
  Lm. Jos Trần Đình Long sss
  Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
  Lm. Lê Quang Uy, DCCT
  Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.
  Lm. Linh Tiến Khải
  Lm. Martin Ng Thanh Tuyền, OP.
  Lm. Minh Anh, TGP. Huế
  Lm. Ng Công Đoan, SJ
  Lm. Ng Ngọc Thế, SJ.
  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
  Lm. Nguyễn Hữu An
  Lm. Nguyễn Thành Long
  Lm. Nguyễn Văn Hinh (D.Min)
  Lm. Pascal Ng Ngọc Tỉnh
  Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
  Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
  Lm. Phạm Văn Tuấn
  Lm. Phạm Vinh Sơn
  Lm. PX. Ng Hùng Oánh
  Lm. Raph. Amore Nguyễn
  Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
  Lm. Tôma Nguyễn V Hiệp
  Lm. Trần Đức Phương
  Lm. Trần Mạnh Hùng, STD
  Lm. Trần Minh Huy, pss
  Lm. Trần Việt Hùng
  Lm. Trần Xuân Sang, SVD
  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
  Lm. Vũ Khởi Phụng
  Lm. Vĩnh Sang, DCCT
  Lm. Vinh Sơn, scj
  Luật sư Đoàn Thanh Liêm
  Luật sư Ng Công Bình
  Mẩu Bút Chì
  Mặc Trầm Cung
  Micae Bùi Thành Châu
  Minh Tâm
  Nữ tu Maria Hồng Hà CMR
  Nguyễn Thụ Nhân
  Nguyễn Văn Nghệ
  Người Giồng Trôm
  Nhà Văn Hương Vĩnh
  Nhà văn Quyên Di
  Nhà Văn Trần Đình Ngọc
  Nhạc Sĩ Alpha Linh
  Nhạc Sĩ Phạm Trung
  Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
  Phaolô Phạm Xuân Khôi
  Phêrô Phạm Văn Trung
  Phó tế Giuse Ng Xuân Văn
  Phó tế JB. Nguyễn Định
  Phùng Văn Phụng
  Phạm Hương Sơn
  Phạm Minh-Tâm
  PM. Cao Huy Hoàng
  Sandy Vũ
  Sr. Agnès Cảnh Tuyết, OP
  Sr. M.G. Võ Thị Sương
  Sr. Minh Thùy, OP.
  Têrêsa Ngọc Nga
  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt
  TGM. Phaolô Bùi Văn Đọc
  Thanh Tâm
  thanhlinh.net
  Thiên Phong
  Thy Khánh
  Thơ Hoàng Quang
  Tiến Hùng
  Tiến sĩ Nguyễn Học Tập
  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trầm Thiên Thu
  Trần Hiếu, San Jose
  Vũ Hưu Dưỡng
  Vũ Sinh Hiên
  Xuân Ly Băng
  Xuân Thái
Nối kết
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo
  Suy Niệm & Cầu Nguyện
BÍ QUYẾT CỦA LỜI NGUYỆN CHUYỂN CẦU TỪ ÁP-RA-HAM ĐẾN CHÚA GIÊ-SU


Chuyện kể về một bà mẹ góa với đứa con côi. Con là niềm vui của mẹ, mẹ là niềm vui của con. Con cười thì mẹ cười, con khóc thì mẹ khóc, có khi mẹ khóc trước con, như khi thấy con đói mà mẹ chưa kiếm được gì cho con ăn... Hai mẹ con như một cặp song ca hoàn toàn ăn ý. Đứa bé tinh khôn, chẳng bao giờ muốn làm mẹ nó buồn. Nhưng một hôm nó cũng làm mẹ buồn đến nỗi mẹ sai nó đi lấy cái roi cho mẹ... Nó cầm cái roi tới đặt trước mặt mẹ rồi ôm chầm lấy mẹ. Mẹ ơi con lỡ làm mẹ buồn nhưng con không muốn mẹ khóc đâu. Mẹ khóc thì con đau hơn mẹ đánh, mà mẹ đánh con thì mẹ sẽ khóc... Thế rồi hai mẹ con ôm nhau, quên cả cái roi...

Chuyện một người cha có cách dạy con khác người. Hồi tôi mới được mời vào ở “Khách Sạn Cây Mít” trong « Sở CÁ T.P.H.C.M. »[1], tôi ở chung phòng với ông Cao Dao, một nhà báo lão thành từ thời Bảo Đại, khi ấy ông đã 67 tuổi. Ông kể cho tôi về cách dạy con khác người của cha ông, là một tri phủ. Mỗi khi đứa con nào làm điều sai trái cần phải sửa dạy. Ông ra ngồi trước bàn thờ tổ, gọi đứa con có lỗi, sai đem roi tới cho ông. Con cầm roi tới, ông bảo con chắp tay đứng trước bàn thờ, ông cầm roi đặt trước bàn thờ, trang trọng thắp nhang vái tổ... Phủ phục vập đầu nhận tội, xin tổ tiên tha thứ vì không biết dạy con… Rồi ông cởi áo, cầm roi tự quất vào lưng trần của mình...

Hai câu chuyện này luôn theo tôi khi tôi đọc sách Thánh, nhìn ngắm cách cư xử của Thiên Thiên Chúa với tổ phụ Áp-ra-ham, với dòng dõi Áp-ra-ham theo huyết nhục là dân của giao ước Xi-nai, với dân của Giao Giao Ước Mới và với cả loài người được mời gia nhập Giao Ước Mới :  người ta có nhận hay không là quyền tự do của họ, nhưng về phía Thiên Chúa, Ngài đã nhận tất cả con cái loài người làm con cái của Ngài rồi và đối xử như một người cha nhân lành, chỉ muốn cho con nên người để không làm hổ mặt ông bà tổ tiên.

Chuyển cầu hay “cầu thay nguyện giúp » là nhu cầu của loài người trong đời sống hàng ngày : mẹ đứng ra xin bố ngưng đánh con… các con súm lại van xin bố mẹ… có việc với quan lớn « thanh liêm » thì đi cửa sau, đem lễ hậu nhờ bà lớn nói giúp… Ngày xưa cũng như ngày nay. Trong truyên Kiều, cha bị vu oan, nhưng muốn gỡ cho cha thì « có ba trăm lượng việc này mới xong ». « Gia cư nghỉ cũng thường thường bậc trung » thì đào đâu ra ba trăm lượng cho quan ăn !? Thúy Kiều đành phải bán mình lấy tiền chuộc cha. Ngẫm nghĩ về việc này Cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã ngâm vịnh : « Ba trăm lượng việc ấy mà xong nhỉ - Thuở trước làm quan cũng thế a ? » Cụ sống ở thời nhiễu nhương đầu thế kỷ 20, tưởng thời xưa khá hơn, ai dè 300 trước người ta cũng biết làm quan… tham để ăn rồi !

            Thiên Chúa nhân từ vô cùng, yêu thương từng người, chẳng cần ai nói giúp ai, cũng không ai có thể « mua » qua cửa trước hay qua cửa sau, nhưng con người cần học sống liên đới với nhau để sống tình huynh đệ như ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng loài người.

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã tố cáo dân Chúa Giu-đa thời sắp bị lưu đầy, vì họ tưởng Thiên Chúa bao che cho tội ác của họ :

Đây là lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giê-rê-mi-a : 2Ngươi hãy đứng ở cửa Đền Thờ ĐỨC CHÚA và tuyên bố những lời sau đây : Tất cả những người Giu-đa qua cửa này vào thờ phượng ĐỨC CHÚA, hãy nghe lời ĐỨC CHÚA3ĐỨC CHÚA các đạo binh là Thiên Chúa của Ít-ra-en phán : Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này. 4Đừng ỷ vào lời giả dối sau đây : “Đền Thờ của ĐỨC CHÚA ! Đền Thờ của ĐỨC CHÚA ! Đã có Đền Thờ của ĐỨC CHÚA !” 5Nếu các ngươi thật sự cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, nếu các ngươi thật sự đối xử công bằng với nhau, 6không ức hiếp ngoại kiều hay cô nhi quả phụ, nếu các ngươi không đổ máu người vô tội nơi đây, không đi theo các thần ngoại mà chuốc hoạ vào thân, 7thì Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này, trong phần đất Ta đã ban cho cha ông các ngươi đến muôn đời. 8Nhưng các ngươi lại ỷ vào những lời dối trá vô giá trị. 9Trộm cắp, giết người, ngoại tình, thề gian, đốt hương tế thần Ba-an và đi theo các thần lạ các ngươi không biết, 10rồi lại vào nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, đến trước mặt Ta mà nói : “Chúng ta được an toàn !”, sau đó cứ tiếp tục làm những điều ghê tởm ấy. Thế nghĩa là gì ? 11Phải chăng các ngươi coi nhà này, coi nơi danh Ta được kêu khấn là hang trộm cướp sao ? Ta, Ta thấy rõ hết – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. (Gr 7,1-11).

Những lời này vẫn có giá trị cho mọi thành phần của Dân Chúa hôm nay. Đừng đổ tội cho người khác, nhưng hãy cầu cho nhau và cho mọi người ; mỗi người phải lo xét mình và đấm ngực mình, đừng đấm ngực người khác, lo cải thiện đời sống bản thân trước khi vạch tội người khác và đòi người khác cải thiện đời sống của họ.

            Chuyện thời sự nóng bỏng cho thấy trong Hội Thánh ngay thời chúng ta đây, nhiều vị cao cấp ngay trong cái gọi là “giáo triều Rô-ma” cũng nhận tiền để bao che mọi thứ tội ác ghê tởm nhất của McCarrick, vị Hồng Y nổi tiếng [mọi mặt !], tổng giám mục giáo phận Washington, thủ đô nước Hoa Kỳ, cho tới khi ĐTC Phan-xi-cô ra tay truất tước hồng y năm 2018 và truất bậc giáo sĩ năm 2019. Hồ sơ 460 trang được Tòa Thánh công bố hôm 10 tháng 11 năm 2020 vừa qua cho thấy ông đã dùng đô-la che mắt bịt miệng bao nhiêu vị chức sắc có nhiệm vụ điều tra về những cáo buộc lạm dụng tính dục mọi lứa tuổi. Các vị này đã che đậy cho ông ta từ đời thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II cho tới Đức Benedicto XVI. Năm 2000 ông ta còn dùng đến lời thề long trọng nhờ thư ký Dziwisz chuyển tới ĐTC Gioan Phao-lô II để khẳng định mình vô tội, mọi thứ cáo buộc toàn là cáo gian. Trong cuộc họp bầu Đức Phan-xi-cô làm người kế vị thánh Phê-rô, ông ta đã quá tuổi hồng y cử tri (80) nên không tham dự. Nhưng chuyện của ông ta vẫn là khôi u nhức nhối chưa giái quyết xong.

Năm 2017 mới có được bằng chứng không thể chối cãi, thế là ĐTC Phan-xi-cô thẳng tay xử ngay và tuyên án năm 2018. Bao nhiêu vị Sứ Thần Tòa Thánh tiếp nối nhau ở Hoa kỳ từ thời ĐTC Gioan Phao-lô II, không làm sáng tỏ được những lời cáo buộc. Trong đó có Carlo Maria Vigano, người hiện nổi tiếng một cách đáng buồn : Đức Benedicto XVI giao cho ông ta, trong nhiệm vụ Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, điều tra… ông ta cũng ậm ờ cho qua. Hết nhiệm kỳ và quá tuổi, ông ta ở lại nghỉ hưu ở Hoa Kỳ. Khi ĐTC Phan-xi-cô ra tay rồi thì ông ta mượn gió bẻ măng lấp tội mình, cả gan đòi ĐTC Phan-xi-cô từ chức vì ông ta đã báo cáo mà bao che bỏ qua… Đức Hồng Y Ouellet, bộ đặc trách Giám Mục đã lập tức vạch mặt ông ta. Từ đó đến nay ông ta chui lủi  đâu đó bên Mỹ, tiếp tục dùng mọi cơ hội tấn công ĐTC Phan-xi-cô và làm mướn không công cho tổng thống Trump mà ông ta tôn thờ như vị cứu tinh Thiên Chúa sai cứu nước Mỹ và Giáo Hội Mỹ. Chờ xem khi Tòa Thánh truy trách nhiệm các vị đã bao che cho McCarrick, trong đó có đích danh Vigano, xem ông ta đã ngậm bao nhiêu đô-la của McCarrick.

Đừng ai ngạc nhiên, vì trong Mười Hai Tông Đồ đã có một ông bán Chúa với giá 1/10 chai dầu thơm hạng sang !! 20 thế kỷ sau… người ta tiến bộ hơn thời ông Giu-đa. Tạ ơn Chúa vì Hội Thánh không gồm các thiên thần, nhưng gồm những con người bằng xương bằng thịt… nhờ thế tôi mới được gia nhập ! Mỗi người hãy theo lời thánh Phao-lô căn dặn : « Ai đang đứng, coi chừng kẻo té » (1Cr 10,12).

                                                            *****

 

ÁP-RA-HAM, Tổ Phụ của những kẻ tin thờ Thiên Chúa (Rm 4,11)

Ông là người chuyển cầu thứ nhất chúng ta gặp trong Sách Thánh. Thiên Chúa coi ông là bạn thân của Ngài (x. Is 41,8), nên không nỡ giấu ông điều Ngài sắp làm cho các thành Gô-mô-ra và Sô-đô-ma (St 18,16-33) :

Từ nơi đó ba người kia đứng dậy và nhìn xuống phía Xơ-đôm. Ông Áp-ra-ham cùng đi để tiễn khách. 17ĐỨC CHÚA phán : “Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng ? 18Áp-ra-ham sẽ trở thành một dân tộc lớn mạnh và mọi dân tộc sẽ được chúc phúc nhờ nó. 19Thật vậy, Ta đã chọn nó, để nó truyền cho con cái nó và gia tộc nó sau này phải giữ đường lối của ĐỨC CHÚA mà thực hiện điều công minh chính trực ; như thế, ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Áp-ra-ham điều Người đã phán về nó.” 20ĐỨC CHÚA phán : “Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn ! Tội lỗi của chúng quá nặng nề ! 21Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết.”

Nghe Đức Chúa nói đi kiểm chứng xem tiếng kêu trách có đúng không, ông Áp-ra-ham lập tức năn nỉ chặn trước để Ngài tha cho các thành ấy, vì ông nghĩ chẳng lẽ hư 100% :  

 ĐỨC CHÚA còn đứng lại với ông Áp-ra-ham23Ông lại gần và thưa : “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao ? 24Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao ? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao ? 25Ngài làm như vậy, chắc không được đâu ! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu ! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao ?” 26ĐỨC CHÚA đáp : “Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó.”

Đọc kỹ cách lý luận của Áp-ra-ham, thật lý thú : thân mật, tế nhị nhưng thẳng thắn nại tới bản chất của Thiên Chúa, mời Thiên Chúa suy nghĩ lại xem làm như thế có đúng tư cách của Thiên Chúa là Đấng Xét xử cả trần gian không ? …

Thiên Chúa đồng ý ngay. Ông Áp-ra-ham thấy mình “hố », liền mặc cả tiếp, lời lẽ rất khiêm tốn, nhưng rất khéo léo, coi như trong túi không có đủ tiền để trả như đã thỏa thuận, lỡ không có đủ 45 mà chỉ có 40 :

Ông Áp-ra-ham lại nói : “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa : 28Giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá huỷ cả thành sao ?” Chúa đáp : “Không ! Ta sẽ không phá huỷ, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người.” 29Ông lại thưa một lần nữa : “Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao ?” Chúa đáp : “Vì bốn mươi người đó, Ta sẽ không làm.”

Thiên Chúa cũng chịu xí xóa ngay. Ông thấy có vẻ còn bớt được, xin tiếp. Bớt một chục luôn, và từ năm chục ông lần lượt xuống tới một chục :

Ông nói : “Xin Chúa đừng giận, cho con nói tiếp : Giả như ở đó có ba mươi người thì sao ?” Chúa đáp : “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không làm.” 31Ông nói : “Con xin mạn phép thưa với Chúa : Giả như tìm được hai mươi người thì sao ?” Chúa đáp : “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không phá huỷ.” 32Ông nói : “Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi : Giả như tìm được mười người thì sao ?” Chúa đáp : “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm.”[2]

Ôi, uổng quá Cụ Tổ ơi, sao Cụ không dám xin bớt tiếp ? Đành chờ khi lên gặp Cụ Tổ ta sẽ hỏi cho rõ vậy. Trước mắt ta đành ghi nhận một bên là sự mạnh dạn và khiêm tốn của Cụ Tổ, một bên là sự rộng rãi của Thiên Chúa… vì tình bạn hữu sẵn sàng lấy giá tượng trưng ! Sau này ta sẽ thấy Thiên Chúa quả là « tình cho không biếu không, chớ nên mua bán tình yêu », như lời một bài hát quen thuộc trước 1975.

Sau này tác giả thánh vịnh sẽ bi quan hơn Cụ Tổ Áp-ra-ham:

Kẻ ngu si tự nhủ : “Làm chi có Chúa Trời !”

Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm, chẳng có một ai làm điều thiện.

2Từ trời cao, CHÚA nhìn xuống loài người, xem ai là kẻ có lương tri, biết kiếm tìm Thiên Chúa. 3Người người đã lìa xa chính lộ, chỉ biết theo nhau làm chuyện suy đồi,

chẳng có một ai làm điều thiện,dẫu một người cũng không. (Tv 14,1-3 ; 52/53,1-4)

Thái độ bi quan này khá phổ biến ngày nay. Nói một cách hồ đồ như thế, chẳng hóa ra người than phiền cũng đứng trong hàng ngũ « chẳng một ai làm điều thiện » !!! Phải chi, mỗi người có thể nói : « Xin Chúa đừng để con rơi vào số đó ». Khi nghe Chúa Giê-su khẳng định : « Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? Thầy nói cho an hem biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. » Rồi thở dài : « Nhưng khi Con Người đến, liệu Người còn thấy, lòng tin trên mặt đất nữa chăng ? » (Lc 18,7-8), chúng ta cũng có xu hướng thở dài theo. Lẽ ra nỗi băn khoăn của Chúa phải thúc đẩy chúng ta đáp lại một cách tích cực : « Chúa ráng giữ con, để nếu Chúa đến hôm nay thì ít là còn một người chờ đợi Chúa ! »

 

MÔ-SÊ, người trung gian

Ông Mô-sê được Thiên Chúa chọn làm trung gian giữa Thiên Chúa với Pha-ra-ô và giữa Thiên Chúa với dòng dõi Áp-ra-ham mà Chúa coi là dân của Chúa, để đưa dân ra khỏi Ai-cập, dẫn tới núi của Chúa để Chúa lập giao ước với họ, rồi đưa họ vào Đất Hứa. Một mình làm trung gian hai phía. Thiên Chúa trực tiếp chiến đấu với Pha-ra-ô, còn ông phải một mình chiến đấu với dân của ông, vì họ cứng lòng tin, cho tới khi được thấy ánh sáng của tự do bên kia biển, « toàn dân mới kính sợ Đức Chúa, tin vào Đức Chúa, tin vào ông Mô-sê, tôi trung của Người » (Xh 14,31). Nhờ thế ông đã hiểu phần nào lòng dạ của Thiên Chúa. Tôi nói phần nào thôi, vì chẳng bao lâu sau ông sẽ thấy ông vẫn còn lỗi nhịp với trái tim của Thiên Chúa.

Ngày dân đã vượt qua biển, thoát vó ngựa truy đuổi của đoàn quân Ai-cập vừa bị nước nhận chìm đáy biển, tiếng hát hò vang dội, điệu trống nhảy múa tưng bừng hoan hỉ… Nhưng tiếng ca, nhịp trống còn vọng vang chưa hết miền hoang địa mênh mông, cổ họng đã ráo khô, chẳng còn hát được, tiếng rên của dạ dày trổi lên mạnh hơn cả tiếng biển ầm ầm chôn sống đoàn quân truy đuổi... vùi lấp niềm vui ngày giải thoát.

Tiếng ca vui bỗng thành ca cẩm (x. Xh 15,24; 16,1-16), niềm hân hoan bị tiếc nuối thế chân; niềm tin bị lung lay (14,31 ßà 17,1-7). Tất cả dẫn họ tới chỗ nổi loạn hai tháng sau đó (x. Xh 32,1-6), rồi 20 năm sau, khi đã đến bờ đất Hứa, họ nổi loạn nữa (x.  Ds 14,1-12) khiến Đấng đã ra tay cứu họ như thấy tiếc công, toan xóa sổ làm lại (x. Xh 32,7-10 ; Ds 14,12-19).

Mỗi lần ông Mô-sê vội vàng can thiệp. Dân này bội bạc như thế thì lấy cớ gì mà van xin  cho họ? Ông Mô-sê tìm được lý từ phía Thiên Chúa (x. Xh 32,11-13; Ds 14, 13-19) và Thiên Chúa nhận lời ông xin (x. Xh 32,14; Ds 14,20-25).

Lần van xin thứ nhất:

Ông Mô-sê cố làm cho nét mặt ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa : “Lạy ĐỨC CHÚA, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập ? 12Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao : Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất ? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. 13Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-hamI-xa-ác và Ít-ra-en ; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng : Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa ; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời.” (Xh 32,11-13)

 

 

Lần van xin thứ hai:

Ông Mô-sê thưa với ĐỨC CHÚA: “Người Ai-cập đã nghe biết rằng Ngài đã dùng sức mạnh của Ngài mà đưa dân này ra khỏi đất chúng14chúng đã kể lại việc đó cho cư dân đất này. Dân đất này đã nghe biết rằng chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài ở giữa dân này, chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài cho họ được thấy Ngài tận mắt, rằng đám mây của Ngài dừng trên họ, và Ngài đi trước họ ban ngày trong cột mây và ban đêm trong cột lửa. 15Thế mà ĐỨC CHÚA lại muốn giết cả dân này như giết một người! Các nước đã từng nghe danh tiếng Ngài sẽ nói : 16‘Chính bởi vì ĐỨC CHÚA đã không thể đem dân ấy vào đất Người đã thề ban cho chúng, mà Người đã hạ sát chúng trong sa mạc.’ 17Vậy giờ đây, xin Chúa Thượng của con biểu dương sức mạnh, như Ngài đã phán : 18 Dân đất này đã nghe biết rằng chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài ở giữa dân này, chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài cho họ được thấy Ngài tận mắt, rằng đám mây của Ngài dừng trên họ, và Ngài đi trước họ ban ngày trong cột mây và ban đêm trong cột lửa. 15Thế mà ĐỨC CHÚA lại muốn giết cả dân này như giết một người ! Các nước đã từng nghe danh tiếng Ngài sẽ nói : 16‘Chính bởi vì ĐỨC CHÚA đã không thể đem dân ấy vào đất Người đã thề ban cho chúng, mà Người đã hạ sát chúng trong sa mạc.’ 19Vậy xin Ngài tha thứ lỗi lầm của dân này theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai-cập cho đến đây. (Ds 14,13-16)

Lần van xin thứ nhất, ông Mô-sê đưa ra hai lý do:

1/ nếu Thiên Chúa tiêu diệt dân này thì người Ai cập sẽ nói gì? 

12Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất ? 

2/ Lời Thiên Chúa đã lấy chính Danh Ngài mà thề với Áp-ra-ham...

13Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-hamI-xa-ác và Ít-ra-en; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời.” 

Lần van xin thứ hai ông cũng đưa ra hai lý do:

1/ Lý do thứ nhất tương tự như lần trước, nhưng trình bày theo bối cảnh mới : Dân đất này đã nghe biết rằng chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài ở giữa dân này, chính Ngài, ĐỨC CHÚA, Ngài cho họ được thấy Ngài tận mắt, rằng đám mây của Ngài dừng trên họ, và Ngài đi trước họ ban ngày trong cột mây và ban đêm trong cột lửa. 15Thế mà ĐỨC CHÚA lại muốn giết cả dân này như giết một người ! Các nước đã từng nghe danh tiếng Ngài sẽ nói: 16‘Chính bởi vì ĐỨC CHÚA đã không thể đem dân ấy vào đất Người đã thề ban cho chúng, mà Người đã hạ sát chúng trong sa mạc. (Ds 14,14-16)

2/ Lý do thứ hai: 19Vậy xin Ngài tha thứ lỗi lầm của dân này theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai-cập cho đến đây. (Ds 14,19)

Ông không nhắc lại lời hứa, nhưng nêu lên thực tế:  Thiên Chúa đã giữ lời hứa với tổ tiên mà đưa dân ra khỏi ách nô lệ và chịu đựng họ suốt thời gian qua. Yếu tố mới được nêu lên là lượng cả ân nghĩa, dựa vào mạc khải mới về Danh Thiên Chúa ở núi Xi-nai sau khi Mô-sê hành xử theo ý mình:

Đức Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là ĐỨC CHÚA

6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông.”

Thiên Chúa không bỏ qua điều gì và sẽ trừng phạt..., nhưng giữ lòng nhân nghĩa, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi muôn ngàn thế hệ! Vì như cha mẹ răn đe con: “Lần sau mà còn như vậy là bố đánh đấy...”, nhưng bao giờ là lần sau? Chờ đấy!...

Vậy thì lời Thiên Chúa đã lấy Danh Ngài mà thề với Áp-ra-ham và các tổ phụ được đẩy lên một nấc tới chính Danh của Ngài mà Ngài mới mạc khải ở núi Xi-nai.

                                                            *****

Đến đây chúng ta có thể nhận ra một điều mới. Ông Mô-sê suy nghĩ và thưa với Thiên Chúa, nếu Chúa tiêu diệt dân này thì Người Ai cập sẽ nói sao... dân cư Ca-na-an sẽ nói sao, ông lại nhắc tới Danh mà Thiên Chúa tỏ cho ông ở núi Xi-nai khi đến ban lại hai bia Chứng Ước cho ông, vì ông đã đập vỡ hai bia Thiên Chúa trao, như thể ông tự ý tuyên bố Giao Ước đã vỡ. Thiên Chúa đâu có rút lại Giao Ước đã ban, vì đó chỉ là mở rộng Giao Ước với Ap-ra-ham đến con cháu của ông như Ngài đã hứa. Bởi vậy Thiên Chúa không triệu tập dân lại trước núi nhưng chỉ kêu một mình ông Mô-sê lên núi để mạc khải cho ông và nhắc lại Luật Giao ước đã ban cho dân để ông tự tay tạc vào bia đá, làm bia Chứng Ước cho dân giữ lại mãi.

Khi Thiên Chúa gọi ông, ông đã xin biết Danh của Ngài, Ngài đã cho ông Danh Tuyệt Đối “TA LÀ” và Danh theo Giao Ước: “THIÊN CHÚA CỦA ÁP-RA-HAM, I-XA-ÁC VÀ GIA-CÓP”, đồng thời truyền dùng Danh theo Giao Ước mà gọi, để luôn nhớ rằng Thiên Chúa đã sai ông đi và đã cứu dân, không phải là Thiên Chúa ngự trên cao[3], nhưng là Thiên Chúa của Giao Ước, luôn ở với họ như đã ở với tổ tiên họ.

Nay ông đã nhận ra mình lỗi nhịp tim với Thiên Chúa, đã tỏ ra chưa biết Thiên Chúa và khiêm tốn xin: “Nếu quả thật con đã được nghĩa với Ngài, xin khấng tỏ cho con biết đường lối của Ngài, để con biết Ngài, và được nghĩa với Ngài” (Xh 33,13). Thiên Chúa vẫn giữ ông lại để phục vụ chương trình của Chúa thực hiện lời hứa với Áp-ra-ham, nên Thiên Chúa cho ông biết đường lối của Thiên Chúa, đường lối ấy nằm ngay trong Danh của Thiên Chúa. Ông đã nghe Danh Thiên Chúa mà chưa biết “Danh” ấy bao hàm những gì, nên vẫn chưa phải là biết Thiên Chúa. Lời cầu xin của ông đích đáng, Thiên Chúa đã ban điều ông xin cho ông, và hai mươi năm sau ông đã biết ứng dụng ơn mạc khải kia[4]. Ông không còn dám tự tiện ra tay như ở núi Xi-nai 20 năm trước (x. Xh 32,15-29).

Thiên Chúa đã lấy chính Danh Người mà thề, nên tất cả những gì Ngài làm để thực hiện lời thề hứa đều biểu lộ Danh Ngài.  

                                                            *****

DANH THIÊN CHÚA TRỌN VẸN NƠI ĐỨC GIÊ-SU                                                                              Verbum caro factum est

huios, filius : con - momogenes,unigenitus (Ga 1,1.14) : Con Một - prototokos,primogenitus (Cl 1,15): trưởng tử

Logos, verbum : Lời// eikôn, imago : Hình ảnh //

pleroma, plenitudo : Viên mãn (Cl 1,19)//apaugasma tes doxes, splendor gloriae.

To phos to alethinon: lux vera : ánh sáng thật (Ga 1,9)

Apaugasmates doxes kai character tes hypostaseos autou, splendor gloriae : phản ảnh vẻ huy hoàng, hình ảnh trung thực.

Ngài đến làm người để kể cho chúng ta biết Chúa Cha và là hiện thân Tình Yêu của Chúa Cha cho chúng ta. Ngài chuyển cầu cho chúng ta cả khi tội lỗi của chúng ta đã đóng đinh ngài vào thập giá. Tin Mừng thứ tư cho chúng ta thấy rõ lý do Ngài dựa vào là VINH QUANG CỦA CHA. Ngài đã ban DANH CỦA CHA cho chúng ta và dựa vào đó mà chuyển cầu cho chúng ta. Danh của THIÊN CHÚA là TÌNH YÊU:

“Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian. 6Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha

“Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta.12Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất. (Ga 17,4-6.11-12)

Chúa Giê-su dạy chúng ta biết dựa vào đâu mà cầu xin với Chúa Cha: Thật, Thầy bảo thật anh em : Anh em mà xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy24Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn. (Ga 16,24)

Hội Thánh đã ghi nhận bí quyết này và luôn cầu nguyện “nhân danh Chúa Giê-su”. Chúng ta tôn vinh Thiên Chúa cũng nhờ danh Chúa Giê-su Ki-tô, cầu xin cũng nhờ Danh Chúa Giê-su Ki-tô, cầu xin cho minh hay chuyển cầu cho người khác cũng nhờ Danh Chúa Giê-su Ki-tô.

Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Mát-thêu và Lu-ca cho chúng ta lời kinh Chúa Giê-su dạy, phần đầu trong Mt 6,9-10

“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,10 triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời

Ba yếu tố chung quy xoay quanh Danh Cha. Người Do Thái mở đầu cầu nguyện với ba  lần “Chúc Tụng ‘Thánh Danh’[5] Chúa của chúng ta”. Danh Cha Cả Sáng khi mọi người sống dưới quyền Cha và thi hành Ý Cha.

Chúc tụng rồi thì xin: phần lương thực hàng ngày để sống, như xưa Thiên Chúa ban man-na hàng ngày trong hoang địa, ngày nào lượm đủ ăn ngày đó, trừ ngày thứ sáu lươm gấp đôi để thứ bảy nghỉ.

Sống làm gì nếu không được nghĩa cùng cha, mà sai lỗi hoài nên phải xin tha hoài; nhưng không thể xin Cha tha nếu chính mình không chịu tha cho anh em.

Sự dữ (thần dữ, Xa-tan) luôn rình rập, cám dỗ như đã cám dỗ tổ tiên trong Vườn Địa Đàng, chúng ta đâu có mạnh hơn tổ tiên xưa, nên phải xin Cha gìn giữ cho khỏi sa ngã, và xin cứu cho khỏi tay Xa-tan.

Tất cả là vì sáng Danh Cha, xin đừng để chúng con làm ô Danh Cha...

                                                                       

***

 

Chuyển cầu hay cầu xin cho người khác, cho cả Hội Thánh, đã có từ ngày đầu, khi các môn đệ tụ họp quanh Thân Mẫu Chúa Giê-su chờ đón Thánh Thần. Sau khi hai ông Phê-rô và Gioan bị bắt rồi được tha về, cả cộng đoàn cầu nguyện:

Được thả về, hai ông đến với các anh em và thuật lại mọi điều các thượng tế và kỳ mục đã nói với hai ông. 24Nghe vậy, họ đồng tâm nhất trí cất tiếng lên cùng Thiên Chúa : “Lạy Chúa, Ngài là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó ; 25Ngài là Đấng đã nhờ Thánh Thần, dùng miệng tổ phụ chúng con là Đa-vít, tôi trung của Ngài, mà phán : Sao chư dân lại ồn ào náo động, sao vạn quốc dám bày kế viển vông ? 26Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ, chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương p.

27“Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với chư dân và dân Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su, Đấng Ngài đã xức dầu. 28Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và ý muốn của Ngài đã định trước. 29Giờ đây, lạy Chúa, xin để ý đến những lời ngăm đe của họ, và cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn. 30Xin giơ tay chữa lành, và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, nhân danh tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su.” 31Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần  và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa. (Cv 4, 23-31)

Trong thư Ê-phê-sô Thánh Phao-lô cũng xin các tín hữu cầu nguyện cho ngài:

Anh em cũng hãy cầu xin cho tôi nữa, để khi tôi mở miệng nói, thì Thiên Chúa ban lời cho tôi, hầu tôi mạnh dạn loan báo mầu nhiệm của Tin Mừng; 20tôi là sứ giả của Tin Mừng này cả khi tôi đang bị xiềng xích. Anh em hãy cầu xin cho tôi để khi rao giảng Tin Mừng tôi nói năng mạnh dạn, như bổn phận tôi phải nói. (6,19-20).

Các tông đồ đã nhận phần “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô gợi ý rằng việc phục vụ Lời Thiên Chúa là bổn phận của tất cả công đoàn, các Tông Đồ là những sứ giả trực tiếp công bố, còn mọi người phải cầu nguyện để các sứ giả được mạnh dạn...

Điều này càng đúng và khẩn thiết hơn trong thời đại chúng ta, khi Lời Thiên Chúa bị bao nhiêu tiếng ồn ào phủ lấp, và những phản chứng do chính các người có nhiệm vụ rao giảng cũng như các tín hữu gây ra, vì không sống đúng như Lời mình đã nhận, vô hiệu hóa lời rao giảng. Các phương tiện truyền thông săn lùng và phóng đại những phản chứng, biến thành công cụ mạnh nhất để triệt hạ Hội Thánh và chế diễu lời rao giảng.

Từ khi có đời sống tu trì, các tu sĩ là những người trợ giúp không thể thiếu của bổn phận rao giảng Tin Mừng, bằng đời sống chứng tá và bằng lời cầu nguyện cho Hội Thánh. Các tu sĩ sống ơn gọi tông đồ phải kiêm cả hai, nên nhiều vị sáng lập mới như Mẹ Tê-rê-sa, lập luôn hai ngành hoạt động và chiêm niệm để bổ túc cho nhau. Thánh I-nha-xi-ô thì đòi con cái phải là người “chiêm niệm trong hoạt động”, nghĩa là kết hiệp với Thiên Chúa trong mọi sự, làm mọi sự theo ý Thiên Chúa và để làm vinh danh Thiên Chúa hơn mãi; đồng thời ngài cũng “hợp đồng với các tu sĩ Sác-tơ-rơ” là những người sống chiêm niệm triệt để nhất, hỗ trợ mãi mãi cho ngài và con cái sẵn sàng đi bất cứ nơi nào trên mặt đất này theo lệnh Đức Thánh Cha, và phục vụ hết mình cho Vinh Danh Thiên Chúa hơn mãi vì chẳng bao giờ đạt giới hạn, chẳng bao giờ tới đỉnh.

Khi ra mắt lần đầu, ngay khi vừa được bầu chọn, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô ngài đã khiêm tốn cúi đầu xin các tín hữu có mặt ở quảng trường Thánh Phê-rô cầu nguyện cho ngài trước khi ban phép lành cho toàn thể Dân Chúa theo thói quen xưa nay. Mỗi ngày chúa nhật ngài cũng kết thúc buổi đọc Kinh Truyền Tin với lời nhắc: “xin đừng quên cầu cho tôi”.

Đến đây thì ta có thể nhận ra Chúa Giê-su là người con hiếu thảo đã ôm lấy Cha để xin Cha tha cho tất cả anh em của mình, và Chúa Cha là người Cha đã vạch lưng mình ra chịu đòn trong cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, Con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người, trở nên anh em huyết nhục của chúng ta, vì Cha ở trong THẦY, và THẦY ở trong Cha (x. Ga 10,38; 14,9-11), Cha Ta và Ta, chúng ta là một (10,30) ; tôn vinh con là tôn vinh Cha, xúc phạm con là xúc phạm Cha.

Quỳ trước Chúa Giê-su trên thập giá, chúng ta có thể mượn lời thánh Phan-xi-cô Xavie tâm sự với Chúa:

Lạy Thiên Chúa của con, con yêu mến Chúa! Con yêu mến Chúa không phải vì trông Chúa cứu con; cũng không phải vì sợ không yêu thì Chúa phạt trong lửa đời đời.

Lạy Chúa Giê-su của con, Chúa đã ôm trọn lấy con trên thập giá; Chúa chịu đinh sắt, lưỡi đòng và bao nhiêu sỉ nhục; vô vàn đau khổ, mồ hôi và lo buồn, cả cái chết nữa: Chúa chịu tất cả vì con, thay cho con là kẻ có tội.

Ôi lạy Chúa Giê-su, Chúa yêu mến hết tình, sao con lại không yêu Chúa?

Con yêu Chúa không phải để Chúa cứu và đưa con về trời hay vì sợ Chúa luận phạt con đời đời. Nhưng con yêu Chúa và con sẽ yêu Chúa như Chúa đã yêu con chỉ vì Chúa là Vua của con và chỉ vì Chúa là Thiên Chúa của con. AMEN

Giê-ru-sa-lem, ngày lễ thánh Stanislas Kostka 2020

Linh  mục Giuse Nguyễn công Đoan, S.J



[1] Tiếng lóng chỉ trại giam đặc biệt ở sở Công An, vì ở lối vào dãy nhà này có cây mít.

[2] Sống trên miền đất mà Cụ Tổ đã đo bằng đôi chân của mình hôm nay, thì hiểu được lối ra giá và mặc cả thú vị này, không phải với những người tự coi là dòng dõi Áp-ra-ham theo huyết nhục đã lưu lạc khắp tứ phương, nhưng là với những người chân đất vẫn tiếp tục lấy đôi chân đo đất này suốt hai nhàn năm qua. Trong truyện Á-ra-ham còn có một vụ mua đất mà Cụ Tổ phải cắn răng trả giá cắt cổ, đó là vụ mua đất để chôn bà Tổ Sa-ra. Bắt đầu người ta nói rất quảng đại, sẵn sàng biếu không... cuối cùng ra giá cắt cổ bốn trăm lượng (bốn ký) bạc, mà vì lo chôn người chết thì không được mặc cả! (x. St 23,3-20).

[3] Một bài hát thời xưa: “Lạy Chúa con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”. Không ít khi chúng ta cũng sống như thể Thiên Chúa chúng ta thờ cũng là “Thiên Chúa ngự trên cao” của “người ngoại đạo này, chứ không phải là Cha chúng ta như Chúa Giê-su đã dạy. Thiên Chúa của chúng ta là THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA trong Đức Ki-tô, trong Hội Thánh, và trong các bí tích Chúa đã ban cho Hội Thánh, nhất là bí tích Thánh Thể, trong Lời Chúa là Lời sống động ngỏ với chúng ta.

[4] Tôi có một thí dụ cụ thể. Một người con rể của anh con bác tôi: hai anh em tôi đã đọc cho cậu ta chép gia phả bốn đời của gia tộc mà hai anh em nhớ được, để con cháu tiếp tục biết dòng họ của mình, vì khi di cư năm 1954 đã mất hết giấy tờ tổ tiên để lại. Cậu rể này hãnh diện vì biết hết tên các cụ trong gia phả 4 đời, tự coi mình là con chứ không phải rể nữa. Nhưng cách hành xử của anh ta thì chẳng hợp với truyền thống Nguyễn tộc của chúng tôi tí nào. Anh tôi đã chết, tôi là người cuối cùng còn lại của thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết di chúc cho các cháu bên nội, kể lại chuyện trong gia đình từ đời bà nội tôi và con dâu bà nội tôi, tức là bà nội của các cháu. Đọc di chúc này thì các cháu nhận ra cậu rể kia từ thâm tâm vẫn là ngoại tộc.

[5] vì không được phép xướng Danh truyệt đối mà Thiên Chúa đã mạc khải cho Mô-sê trong Xh 3,13-14.        

Tác giả:  Lm. Ng Công Đoan, SJ

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!