Trang Chủ Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39) - Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity Quà tặng Tin Mừng
Lm. Jos Lê Minh Thông, OP
Tủ Sách CGVN

Văn Kiện Vatican 2

Lectio divina

Suy Niệm & Cầu Nguyện

Sách Bài Đọc UBPT

Nova Vulgata

GH. Đồng Trách Nhiệm

Học Hỏi Thánh Kinh

Giáo Huấn Xã Hội CG

Tuần Tin HĐGMVN

Giáo Sĩ Việt Nam

ThăngTiến GiáoDân

Bản Tin Công Giáo VN.

Chứng Nhân Chúa Kitô

Thánh Vịnh Đáp Ca

Phúc Âm Nhật Ký

Tin Vui Thời Điểm

Tin Tức & Sự Kiện

Văn Hóa Xã Hội

Thi Ca Công Giáo

Tâm Lý Giáo Dục

Mục Vụ Gia Đình

Tư Liệu Giáo Hội

Câu Chuyện Thầy Lang

Slideshow-Audio-Video

Chuyện Phiếm Gã Siêu

Nối kết
Bài Viết Của Lm. Jos Lê Minh Thông, OP

Giáng Sinh 2016. Niềm vui và bình an cho nhân loại (Lc 2,1-14)
Ước mong Chúa Hài Đồng giúp chúng ta bớt những thứ kềnh càng trong cuộc hành trình trần thế, tỉnh thức và lắng nghe để nhận biết và chào đón Chúa, nhất là sống niềm vui và bình an của Chúa Giê-su trong mọi hoàn cảnh. Mừng Chúa Giáng Sinh 2016 và Chúc Mừng Năm Mới 2017,

Hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng Gio-an
Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng) kể về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giê-su, vậy có thể nói gì về “đời sống hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng này”? Bài viết tập trung vào một số đoạn văn để tìm hiểu đề tài trên. Câu hỏi đặt ra từ hai phía: Hôn nhân và gia đình góp phần thế nào vào sứ vụ và mặc khải của Đức Giê-su? Đức Giê-su mang lại điều gì thiết thực cho đời sống hôn nhân và gia đình? Phần trình bày gồm ba mục: (I) “Rượu ngon” trong đời hôn nhân; (II) “Sinh con” và “làm con”; (III) Gia đình ruột thịt và gia đình người tin.  

Dấu lạ (sêmeion) trong Tin Mừng Gio-an
Danh từ Hy Lạp “sêmeion” có nghĩa là “dấu chỉ”, riêng trong Tin Mừng Gio-an có thể dịch sang tiếng Việt: “dấu lạ” (tiếng Anh: sign; Pháp: signe). Thông thường, “sêmeion” có nghĩa là “dấu chỉ” (signe, sign). Dựa vào “dấu chỉ”, cho phép kết luận một điều gì đó mà dấu chỉ nhắm tới. Chẳng hạn, hiện tượng sốt là dấu chỉ bị viêm nhiễm. Từ “dấu chỉ” (signe, sign) còn dùng trong các ký hiệu ngôn ngữ hay toán học. Nói chung, “dấu chỉ” (signe, sign) chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong một hệ thống.

Lời chứng của Đức Giê-su và của Chúa Cha trong Tin Mừng Gio-an
Bài viết ‘Lời chứng’ (marturia) và ‘làm chứng’ (martureô) trong Tin Mừng Gio-an” đã trình bày khái quát về đề tài này và liệt kê số lần danh từ “marturia” và động từ “martureô”.  Những bài viết khác đã trình bày chi tiết hơn về lời chứng của Gio-an Tẩy Giả  của môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Bài viết này sẽ tập trung phân tích lời chứng của Đức Giê-su và của Chúa Cha. Các lời chứng này tìm thấy trong Tin Mừng Gio-an như sau:

Ga 19,35; 21,24. Lời chứng của môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng Gio-an
Theo Tin Mừng Gio-an, trong số các môn đệ Đức Giê-su chỉ có người môn đệ Đức Giê-su yêu mến hiện diện dưới chân thập giá (19,26a). Sự hiện diện quý báu đó làm cho môn đệ này trở thành chứng nhân trực tiếp về cuộc Thương Khó của Đức Giê-su. Lời chứng liên quan đến biến cố quan trọng này được thuật lại trong đoạn văn 19,31-37. Phần sau sẽ phân tích đoạn văn này qua bảy mục: (1) Bản văn Ga 19,31-37, (2) Bối cảnh văn chương 19,31-37, (3) Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Giê-su (19,34), (4) Lời chứng của ai? (5) Thấy thể lý và thấy bằng con mắt đức tin, (6) Nội dung lời chứng, (7) Mục đích của lời chứng: “Để anh em tin” (19,35d).

Ga 21,20-25. Vận mệnh, bút tích và lời chứng của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến
Ga 21 được xem là do soạn giả (le rédacteur) sách Tin Mừng Gio-an viết và thêm vào sau. Soạn giả viết kết luận thứ hai (21,24-25) trong khi sách Tin Mừng đã có kết luận thứ nhất ở cuối chương 20 (20,30-31). Ga 21 trình bày tương quan giữa Đức Giê-su với hai khuôn mặt nổi bật của cộng đoàn Gio-an (Johannine community): Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Toàn bộ ch. 21 được cấu trúc thành 4 tiểu đoạn:

“Lời chứng” và “làm chứng” của Gio-an Tẩy Giả trong Tin Mừng Gio-an

Trong bài viết “Lời chứng” (marturia) và “làm chứng” (martureô) trong Tin Mừng Gio-an” đã liệt kê số lần xuất hiện và cách dùng danh từ “lời chứng” (marturia) và động từ “làm chứng” (martureô). Bài viết này tập trung vào “lời chứng” và “làm chứng” của Gio-an Tẩy Giả. Tin Mừng Gio-an nói đến 2 lần danh từ “lời chứng” của Gio-an Tẩy Giả ở 1,7.19 và 7 lần động từ “làm chứng” ở 1,7.8.15.32.34; 3,26; 5,33, đề tài này được trình bày ba mục: (1) Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả (1,7.19; x. 5,36); (2) Gio-an Tẩy Giả làm chứng về ai và về điều gì? (3) Đức Giê-su nhắc lại lời chứng của Gio-an (5,33).

“Lời chứng” (marturia) và “làm chứng” (martureô) trong Tin Mừng Gio-an
Bài viết này đã đăng ngày 01/10/2013 trên Bloghttp://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ với tựa đề: “Danh từ ‘lời chứng’ (marturia) và động từ ‘làm chứng’ (martureô) trong Tin Mừng Gio-an.” Nhân dịp viết bài này bằng tiếng Pháp: “‘Le témoignage’ (marturia) et ‘témoigner’ (martureô) dans l’Évangile de Jean”, bài tiếng Việt được trình bày lại và có tựa đề ngắn hơn: “Lời chứng’ (marturia) và ‘làm chứng’ (martureô) trong Tin Mừng Gio-an.

Không thực sự và thực sự đến với Đức Giê-su, thấy Người, và tin vào Người trong Tin Mừng Gio-an
Trong Tin Mừng Gio-an, người thuật chuyện thường dùng các động từ “đến với”, “thấy” và “tin vào” Đức Giê-su. Quan sát lối hành văn này giúp cho những ai muốn thiết lập tương quan đích thực với Đức Giê-su có thể đạt được kết quả mong đợi. Những động từ Hy Lạp liên quan đến đề tài trên là “erkhomai” (đến), “pisteuô” (tin) và bốn động từ: “horaô”, “theôreô”, “theaomai” và “blepô”, bốn động từ này đều có nghĩa là “thấy” vì không có sự khác biệt lớn về ngữ nghĩa xét theo mạch văn.

Khủng hoảng niềm tin vào Đức Giê-su và giải pháp trong Tin Mừng Gio-an
“Tin” (pisteuô) là đề tài quan trọng trong Tin Mừng Gio-an, điều này đã phân tích trong bài viết: “Tin (pisteuô) trong Tin Mừng Gio-an.” Bài viết này sẽ trình bày những yếu tố gây khủng hoảng niềm tin và giải pháp để vượt qua khủng hoảng, nhờ đó giữ vững niềm tin vào Đức Giê-su và sống niềm vui và bình an của Đức Giê-su ban tặng. Các trích dẫn Tin Mừng lấy trong Bản văn Gio-an, Tin Mừng và Ba thư Hy Lạp – Việt.  

Tin (pisteuô) trong Tin Mừng Gio-an
Bài viết này đã đăng ngày 25/11/2012 trên blog: Từ ngữ Gio-an (http://tungubontinmung.blogspot.com/) với tựa đề “TIN, đt., pisteuô, trong Tin Mừng Gio-an.” Nhân dịp viết bài này bằng tiếng Pháp, bài viết đã được cập nhật, chỉnh sửa và đăng trên Blog Tin Mừng Gio-an với tựa đề tiếng Việt: “Tin (pisteuô) trong Tin Mừng Gio-an”, tiếng Pháp: “Croire (pisteuô) dans l’Évangile de Jean” và tiếng Anh: “Believe (pisteuô) in the Gospel of John.”

Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người
Bài viết này đã đăng ngày 21/09/2013 trên bloghttp://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ với tựa đề: “Ga 14,15-24: ‘Yêu mến Đức Giê-su’ và ‘giữ các điều răn của Người’ sẽ được gì?” Nhân dịp viết lại bài này bằng tiếng Pháp, bài viết trên được cập nhật, bổ sung và trình bày lại với tựa đề tiếng Việt: “Ga 14,15-24: Đặc ân dành cho ai yêu mến Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người” và tiếng Pháp: “Jn 14,15-24: Les bénéfices de celui qui aime Jésus et garde ses commandements.

Ga 15,9-13: Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha, Đức Giê-su và các môn đệ
Tình yêu giữa Chúa Cha và Đức Giê-su, tình yêu giữa Đức Giê-su và các môn đệ, cũng như tình yêu giữa các môn đệ với nhau là đề tài lớn trong Tin Mừng Gio-an. (Xem bài viết: Đề tài tình yêu và tình bạn trong Tin Mừng Gio-an). Tình yêu này được diễn tả như thế nào? Các môn đệ đón nhận tình yêu và đáp trả tình yêu này bằng cách nào? Đoạn Tin Mừng Ga 15,9-13, trình bày dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha, Đức Giê-su và các môn đệ sẽ giúp trả lời những câu hỏi trên. Để tìm hiểu đoạn văn này, phần sau sẽ trình bày bốn mục: (1) Bản văn và cấu trúc Ga 15,9-13, (2) Hy sinh mạng sống mình vì tình yêu (15,13), (3) Yêu như Đức Giê-su đã yêu (15,12), (4) Dòng chảy tình yêu.

Ba điều răn yêu thương trong Kinh Thánh
Chúng ta thường nói đến điều răn yêu thương và mời gọi mọi người sống điều răn yêu thương như Đức Giê-su dạy. Nhưng cụ thể là điều răn nào? Điều răn “yêu thương người thân cận” hay “yêu thương lẫn nhau”? Điều răn mới là điều răn nào và có gì khác với “điều răn cũ”? Đâu là sự khác biệt giữa “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng Nhất Lãm và “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng Gio-an?

Đề tài tình yêu và tình bạn trong Tin Mừng Gio-an

Tin mừng Gio-an dùng cả danh từ và động từ để diễn tả đề tài “tình yêu” (danh từ: agapê, động từ: agapaô) và “tình bạn” (danh từ: philos, động từ: phileô). Bài viết sẽ trình bày chi tiết cách dùng các từ này. Trước hết sẽ liệt kê những lần các từ này xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an, kế đến sẽ trình bày ý nghĩa hai động từ “agapaô” và “phileô”. Sau cùng là phần bàn đến tất cả tương quan tình yêu trong Tin Mừng. Các tương quan tình yêu được xếp thành bốn loại: (I) Tình yêu nẩy sinh sự sống, (II) Tình yêu dẫn đến sự hư mất, (III) Không yêu, không có tình yêu, (IV) Tương quan bạn hữu. Như thế, theo Tin Mừng Gio-an, tình yêu có nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực.

“Ta Là” (egô eimi) trong Tin Mừng Gio-an.
 Cụm từ “egô eimi” được dùng thế nào trong Tin Mừng Gio-an? Kiểu nói “egô eimi” trong Cựu Ứơc nói đến ai? Nghĩa thần học “egô eimi” của Đức Giê-su trong Tin Mừng Gio-an là gì? Để trả lời những câu hỏi trên, bài viết sẽ trình bày bốn mục chính: (1) Cách dùng “egô eimi” trong Tin Mừng Gio-an, (2) “Egô eimi” trong Cựu Ước, (3) “Egô eimi” trong sách Khải Huyền và (4) Cách hiểu “egô eimi” theo thần học Tin Mừng Gio-an.

Xa-tan (Satanas), quỷ (diabolos, daimonion), Ác thần (ponêros) trong Kinh Thánh
Bài viết này sẽ bàn đến các từ ngữ: Xa-tan (Satanas), quỷ (diabolos, daimonion), Ác thần (ponêros) trong Cựu Ước, trong các tài liệu giữa hai Giao Ước (les écrits intertestamentaires) và trong Tân Ước qua ba mục sau: (I) Xa-tan và quỷ (diabolos), (II) Quỷ (daimonion) và thần ô uế, (III) Ác thần và tà thần. Bài viết này chỉ là trình bày sơ lược về đề tài rộng lớn này trong Kinh Thánh.

Nhị nguyên (dualisme) trong Tin Mừng Gio-an
Tác giả Tin Mừng Gio-an dùng nhiều đề tài và ngôn ngữ nhị nguyên. Đó là những cặp từ ngữ đối lập hay tương phản nhau. Nhị nguyên trong Tin Mừng này không hiểu theo nghĩa triết học, cho rằng cơ sở của sự tồn tại dựa trên hai nguyên lý vật chất và tinh thần xung đột lẫn nhau, chẳng hạn nhị nguyên giữa hai nguyên lý Tốt và Xấu (les principes du Bien et du Mal). Trong bối cảnh Tin Mừng Gio-an, ngôn ngữ nhị nguyên nhằm diễn tả thần học và trình bày mặc khải.

Sáu đặc điểm của “thế gian thù ghét” và “những kẻ chống đối Đức Giê-su” trong Tin Mừng Gio-an
Trong Tin Mừng Gio-an, nghĩa của từ “kosmos” (thế gian) phong phú và phức tạp. Bài viết: “Thế gian (kosmos) trong Tin Mừng Gio-an” đã trình bày năm nghĩa của từ “kosmos” (thế gian): (1) Thế gian vũ trụ, (2) Thế gian trái đất, (3) Thế gian nhân loại, (4) Thế gian chưa tin và (5) Thế gian thù ghét. Thế gian thù ghét là những người giả thiết là đã nghe lời rao giảng về Đức Giê-su nhưng họ quyết định từ chối tin vào Đức Giê-su (Ga 15,18-24). Như vậy, “thế gian thù ghét” không phải là “thế gian nhân loại,” cũng không phải là “thế gian chưa tin.” Thế gian thù ghét là một nhóm nhỏ thuộc về thế gian chưa tin, đặc biệt là chống đối, bách hại Đức Giê-su và các môn đệ của Người. Theo thần học Tin Mừng Gio-an, thế gian thù ghét này không có nghĩa tiêu cực, ngược lại, thế gian này là đối tượng sứ vụ của Đức Giê-su và của các môn đệ.

Tác giả, niên biểu và thể văn sách Khải Huyền
Truyền thống cho rằng Gio-an tông đồ là tác giả sách Khải Huyền. Theo truyền thống, Gio-an tông đồ cũng là tác giả Tin Mừng Gio-an và ba thư Gio-an. Tuy nhiên, khi dựa vào bản văn sách Khải Huyền, phần lớn các nhà Kinh Thánh ngày nay phân biệt Gio-an tông đồ và Gio-an tác giả sách Khải Huyền. Bốn lần tên gọi “Gio-an” xuất hiện trong sách Khải Huyền (1,1.4.9; 22,8) cho phép xác định đôi nét về tác giả.

[1] 1 2 [1/2]

Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!